Giới thiệu chung
Skip portletPortlet Menu
 
Tin tức - Sự kiện
Skip portletPortlet Menu
 
Lĩnh vực chuyên môn
Skip portletPortlet Menu
 
 
Liên kết website
Skip portletPortlet Menu
 
 
 
Nghệ An tình trạng Lao động và việc làm, giải pháp cho vấn đề việc làm (18/02/2016 03:38 PM)

So với nhiều quốc gia trên thế giới, Việt Nam có nguồn lao động rất dồi dào với 53,748 triệu lao động, trong khi hàng năm bổ sung thêm hơn 1 triệu người đến tuổi lao động. Tạo việc làm và sử dụng hiệu quả số lao động này đang là quan tâm của cả xã hội.

Theo số liệu Cục Thống kê Nghệ An năm 2014, Nghệ An là tỉnh có quy mô dân số lớn thứ 4 trong cả nước với dân số trung bình là 3.037.440 người, trong đó có 1.953.101 lao động. Bình quân hàng năm số lao động đến tuổi bổ sung vào lực lượng lao động của tỉnh trên 4 vạn người. Xét về cơ cấu, lực lượng lao động phần lớn là trẻ, độ tuổi từ 15 - 24 chiếm 17%, từ 25 - 34 chiếm 20,36% và tỷ lệ lao động đang làm việc trong nền kinh tế đã qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật chiếm 15,6%. Lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật tập trung vào một số nghề như sửa chữa xe có động cơ, lái xe, may mặc, điện dân dụng, điện tử,... còn một số nghề lại quá ít lao động đã qua đào tạo như chế biến nông, lâm sản, nuôi trồng thủy sản, vật liệu xây dựng. Vì vậy, có thể nói trình độ chuyên môn và nghề nghiệp của lực lượng lao động Nghệ An đang còn bất cập, chưa đáp ứng được đòi hỏi đặt ra của thị trường lao động.   

Bảng 1: Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên chia theo thành thị, nông thôn, giới tính năm 2010-2014.

                                                                                                                       Đơn vị tính: người

Bảng 2: Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động chia theo thành thị, nông thôn, giới tính và tỉnh, năm 2010-2014

                                                                                                      Đơn vị tính: %



 

Qua số liệu tổng hợp và điều tra của tỉnh Nghệ An ở trên ta có thể thấy: Nguồn lao động của tỉnh Nghệ An đang được bổ sung ngày càng nhiều từ nguồn dân số đến tuổi lao động trên địa bàn. Tỷ lệ thất nghiệp qua các năm của tỉnh cụ thể: năm 2010 là 1,95%, năm 2011 là 1,03%, năm 2012 là 0,93%, năm 2013 là 1,12% và năm 2014 là 1,47%, như vậy tỷ lệ thất nghiệp có khuynh hướng tăng theo các năm; và theo số liệu bảng 2 tỷ lệ thất nghiệp tập trung nhiều ở thành thị nguyên nhân tỷ lệ thất nghiệp cao ở khu vực thành thị là do thị trường lao động phát triển sâu rộng đòi hỏi chất lượng lao động cao, trong khi đó không ít ngành nghề đào tạo lại không phù hợp với yêu cầu của thị trường. Cùng đó, lao động không nghề có tỷ trọng lớn nên càng ngày càng khó có cơ hội tìm việc làm. Điều đó gây một sức ép đáng kể cho vấn đề giải quyết việc làm ở địa phương; Chất lượng nguồn lao động thấp, chưa được trang bị về nghề nghiệp, chuyên môn kỹ thuật; Sự chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn đang diễn ra một cách tự phát, chưa được định hướng; Phương hướng và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội ở địa phương tạo ra một tiềm năng lớn về việc làm trên địa bàn. Vấn đề cốt yếu là cần có một chiến lược đào tạo nâng cao chất lượng nguồn lao động để đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế xã hội ở địa phương.

Từ kết quả điều tra Lao động – Việc làm trên địa bàn Tỉnh Nghệ An (nguồn Cục Thống kê), xét về cơ cấu lao động trong các khu vực kinh tế qua các năm như sau:

Bảng 3: Số người 15 tuổi trở lên có làm việc chia theo khu vực kinh tế, năm 2011-2014

                                                                                                       

                                                                                                           Đơn vị tính: %


 

Thực tiễn những năm qua Việt Nam nói chung và tỉnh Nghệ An nói riêng, cơ cấu lao động làm việc trong ngành sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản đang có xu hướng giảm dần và lực lượng lao động ở ngành thương mại - dịch vụ, công nghiệp – xây dựng có xu hướng tăng. Cụ thể khu vực 1 (nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản) từ 67,87% năm 2011 giảm xuống 65,45% năm 2012, xuống 63,71% năm 2013 và giảm 60,50% năm 2014; khu vực 2 (công nghiệp và xây dựng) biến động nhẹ năm 2011 là 13,72%, năm 2012 là 12,53%, năm 2013 là 13,74% và năm 2014 là 14,98%; khu vực 3 (dịch vụ) có chiều hướng tăng, năm 2011 là 18,41% tăng lên 22,02% năm 2012, 22,55% năm 2013 và tăng 24,52% năm 2014. Điều này chứng tỏ có sự chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn từ khu vực 1 sang khu vực 3 và khu vực 2; cũng là lý do để giải thích tỷ lệ thất nghiệp lao động nữ thấp hơn lao động nam (theo bảng 2). Tuy nhiên, việc chuyển dịch cơ cấu lao động này còn mang tính tự phát, người lao động chưa được chuẩn bị về tinh thần cũng như trình độ. Chất lượng lao động khu vực nông nghiệp nông thôn như hiện nay, khó đáp ứng nhu cầu lực lượng lao động cho các khu công nghiệp cũng như nâng cao chất lượng ngành dịch vụ - thương mại. Qua nghiên cứu cho thấy, các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh, lực lượng lao động của địa phương không đáp ứng được mà phải tuyển dụng lao động ở các địa phương khác. Để chủ động và hạn chế được tình trạng trên, vấn đề nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là một yêu cầu cấp thiết trong chiến lược phát triển kinh tế của tỉnh nhà.

Để giải quyết vấn đề việc làm ở tỉnh Nghệ An theo tôi cần thực hiện tốt các giải pháp sau:

Trước hết phải huy động mọi nguồn lực để tạo ra môi trường kinh tế phát triển nhanh có khả năng tạo ra nhiều chỗ làm việc mới thường xuyên và liên tục. Phấn đầu đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm 9-10% (năm 2014 đạt 6,77%) vừa là yêu cầu của sự phát triển vừa là đòi hỏi của tạo công ăn việc làm.

Thứ 2, đầu tư xây dựng và cải tạo hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ thiết thực và bức xúc cho phát triển. Đồng thời tạo môi trường pháp lý đồng bộ khuyến khích tạo mở và duy trì chỗ làm việc, khuyến khích tự tạo việc làm. Xây dựng những chính sách về đào tạo, nâng cao tay nghề, nâng cao năng suất lao động, tiền lương, phúc lợi và khen thưởng để thu hút nhân lực phù hợp thực tế đời sống xã hội.

Thứ 3, đầu tư phát triển các ngành nghề công nghiệp, chú trọng trước hỗ trợ công nghiệp chế biến, công nghiệp hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu; xây dựng có chọn lọc một số cơ sở nông nghiệp chế biến, công nghiệp hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu; xây dựng có chọn lọc một số cơ sở công nghiệp nặng về dầu khí, xi măng, cơ khí điện tử, thép, phân bón, hóa chất.

Thứ 4, phát triển các ngành dịch vụ, trong đó tập trung vào các lĩnh vực vận tải thông tin liên lạc, thương mại, du lịch, các dịch vụ tài chính, ngân hàng, công nghệ, pháp lý, …

Thứ 5, phát triển nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống trung tâm dịch vụ việc làm. Vì trung tâm dịch vụ việc làm là một đơn vị sự nghiệp hoạt động vì mục tiêu xã hội, nó là chiếc cầu rất quan trọng và không thể thiếu giữa cung và cầu lao động.

(Nguồn: Nguyễn Thị Thu Hà - Cục Thống kê Nghệ An)

 |  Đầu trang
 
<<   <  1  >  >>
 
 
 
Thông báo
Skip portletPortlet Menu
 
 
 
Thư viện ảnh
Skip portletPortlet Menu