Giới thiệu chung
Skip portletPortlet Menu
 
Tin tức - Sự kiện
Skip portletPortlet Menu
 
Lĩnh vực chuyên môn
Skip portletPortlet Menu
 
 
Liên kết website
Skip portletPortlet Menu
 
 
 
Tăng trưởng kinh tế và vấn đề nâng cao mức sống dân cư tỉnh Nghệ An đến năm 2020 (29/11/2016 03:22 PM)

1, Lý do chọn đề tài

Tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững là mục tiêu quan trọng đối với hầu hết các quốc gia và từng địa phương. Tổng sản phẩm nội tỉnh (GRDP) là một trong những chỉ số cơ bản để đánh giá mức độ tăng trưởng kinh tế và thành tựu xóa đói giảm nghèo của các địa phương. Tuy nhiên, trong thực tiễn, tốc độ tăng trưởng GRDP cao không luôn đồng nghĩa với phát triển kinh tế nhanh, bền vững mà thậm chí đôi lúc còn phát sinh những bất bình đẳng trong xã hội, dẫn đến chất lượng cuộc sống của người dân bị suy giảm. Đây cũng chính là một mục tiêu lớn, phức tạp mà Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm giải quyết

Nghị quyết Đại hội đại biểu tỉnh Nghệ An lần thứ XVIII đã đề ra mục tiêu đến năm 2020 là “... phát huy nội lực, đẩy mạnh thu hút ngoại lực, xây dựng tỉnh Nghệ An trở thành tỉnh khá trong khu vực phía Bắc... đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng cao...”. Để đạt được mục tiêu đó như sinh thời Bác Hồ từng mong muốn. Chính vì vậy mà tôi chọn đề tài “Tăng trưởng kinh tế và vấn đề nâng cao mức sống dân cư tỉnh Nghệ An đến năm 2020” làm chuyên đề nghiên cứu trong Tiểu luận nhóm 2 do tôi làm tổ trưởng.

2, Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích: Đề tài nghiên cứu làm sáng tỏ lý luận và thực tiễn mối quan hệ giữa tăng trưởng GRDP và mức sống dân cư tại tỉnh Nghệ An

Nhiệm vụ: Để đạt được mục đich trên, đề tài có 3 nhiệm vụ cụ thể sau đây:

Một là, nghiên cứu làm sáng tỏ cơ sở lý luận về tăng trưởng GRDP, mức sống dân cư và mối quan hệ của nó

Hai là, Phân tích thực trạng tăng trưởng GRDP và mức sống dân cư. Đánh giá rút ra nguyên nhân, bài học kinh nghiệm để giải quyết tốt mối quan hệ này.

Ba là, Đưa ra những mục tiêu, giải pháp chủ yếu về tăng trưởng GRDP và nâng cao mức sống dân cư cùng với mối quan hệ của nó ở tỉnh Nghệ An giai đoạn 2015-2020.

3, Lý luận về tăng trưởng kinh tế, mức sống dân cư và mối quan hệ của tăng trưởng kinh tế và mức sống dân cư

3.1 Tăng trưởng kinh tế (GRDP)

Trong thực tiễn và lý luận, để so sánh trình độ phát triển của một quốc gia hay một địa phương qua các thời kỳ hay giữa các quốc gia (địa phương) khác nhau thường sử dụng chỉ tiêu Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) làm thước đo nguồn lợi và phúc lợi vật chất.

GRDP (Gross Region Domestic Product) là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh toàn bộ kết quả cuối cùng của các hoạt động sản xuất của tất cả các đơn vị thường trú trên địa bàn (tỉnh/thành phố) trong một thời kỳ nhất định. GRDP là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh giá trị mới tăng thêm của hàng hóa và dịch vụ được tạo ra trên địa bàn (tỉnh/thành phố) trong một thời gian nhất định (thường là một năm). Về định lượng GRDP được tính theo 3 phương pháp: phương pháp sản xuất; phương pháp thu nhập; phương pháp sử dụng.

Theo phương pháp sản xuất: Tổng sản phẩm trên địa bàn bằng (=) Tổng giá trị tăng thêm của tất cả các ngành kinh tế cộng (+) thuế sản phẩm trừ (-) trợ cấp sản phẩm.

Công thức tính như sau:

GRDP = VA + T – S

Trong đó:

VA (value added) là giá trị tăng thêm của tất cả các ngành kinh tế

T (product tax) là thuế sản phẩm

S (subsidize) là trợ cấp sản phẩm

Theo phương pháp thu nhập: Tổng sản phẩm trên địa bàn bằng (=) Tổng thu nhập tạo nên từ các yếu tố tham gia vào quá trinh sản xuất như lao động, vốn, đất đai, máy móc, thiết bị. Theo phương pháp này, tổng sản phẩm trên địa bàn gồm 4 yếu tố: 1) Thu nhập của người lao động từ sản xuất (bằng tiền và hiện vật quy ra tiền); 2) Thuế sản xuất (đã trừ phần trợ cấp sản xuất); 3) Khấu hao tài sản cố định dùng trong sản xuất; 4) và thặng dư sản xuất hoặc thu nhập hỗn hợp.

Công thức tính:

GRDP = I + T + A + S

Trong đó:

I là thu nhập của người lao động từ sản xuất

T là thuế sản xuất

A là khấu hao tài sản cố định dùng trong sản xuất

S là thặng dư hoặc thu nhập hỗn hợp

Theo phương pháp sử dụng: Tổng sản phẩm trên địa bàn bằng (=) tổng của 3 yếu tố: 1) Tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình và chính quyền địa phương; 2) Tích lũy tài sản (tài sản cố định, tài sản lưu động và tài sản quý hiếm); và 3) Chênh lệch xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ.

Công thức tính:

GRDP = C + G + I + (X-M)

Trong đó:

C (consumption) là tiêu dùng của hộ gia đình

G (government spending) là tổng chi tiêu của chính phủ và nhà nước (tiêu dùng của chính quyền).

I (investment) là đầu tư của các nhà kinh doanh hay tích lũy tài sản

X-M (export-import) là “xuất khẩu ròng của nên kinh tế, đo bằng tổng giá trị hàng hóa dịch vụ xuất khẩu – tổng giá trị hàng hóa dịch vụ nhập khẩu.

Về mặt lý thuyết thì có thể tính tổng sản phẩm trên địa bàn theo 3 phương pháp như trên. Tuy nhiên, trong thực tế hiện nay để tính cho một tỉnh/thành phố thì nguồn thông tin rất hạn chế và chưa đủ điều kiện để có thể vận dụng cả 3 phương pháp như đối với toàn bộ nền kinh tế nên việc tính tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh/thành phố (GRDP) chủ yếu theo phương pháp sản xuất.

Theo phương pháp sản xuất để tính được giá trị tăng thêm của các ngành kinh tế trước hết phải tính giá trị sản xuất của các ngành kinh tế, sau đó trừ đi chi phí trung gian của từng ngành kinh tế, công thức tính như sau:

VA = GO – IC

Trong đó:

VA (Value Added) là giá trị tăng thêm

GO (Gross Output) là giá trị sản xuất

IC (Intermediate Consumption) là chi phí trung gian

Giá trị tăng thêm (VA) là giá trị mới của hàng hóa và dịch vụ tạo ra từ quá trình sản xuất của một ngành kinh tế.

Giá trị sản xuất (GO) là toàn bộ giá trị của những sản phẩm vật chất và dịch vụ do các cơ sở sản xuất thuộc tất cả các ngành kinh tế tạo ra trong một thời gian nhất định (thường là một năm).

Giá trị sản xuất có thể tính theo giá sản xuất hoặc tính theo giá cơ bản. Giá trị sản xuất tính theo giá nào thì giá trị tăng thêm tính theo giá đó.

Chi phí trung gian là một bộ phận cấu thành của giá trị sản xuất, bao gồm toàn bộ chi phí vật chất và chi phí dịch vụ cho sản xuất được hạch toán vào giá thành sản phẩm. Chi phí trung gian phải là kết quả sản xuất do các ngành sản xuất ra hoặc nhập khẩu từ nước ngoài. Chi phí trung gian luôn được tính theo giá sử dụng (giá người mua) nghĩa là bao gồm cả phí vận tải, phí thương mại và các loại chi phí khác do đơn vị sản xuất chi trả để đưa nguyên, nhiên liệu vào sản xuất.

Chi phí vật chất bao gồm các yếu tố: nguyên vật liệu, nhiên liệu, khí đốt, điện, nước, chi phí công cụ sản xuất nhỏ, vật rẻ tiền mau hỏng, chi phí sản phẩm vật chất khác.

Chi phí dịch vụ bao gồm các yếu tố: vận tải, bưu điện, bảo hiểm, dịch vụ ngân hàng, dịch vụ pháp lý, dịch vụ quảng cáo, chi phí dịch vụ khác.

Ngoài ra để tính đến yếu tố lạm phát, GRDP được phân định thành GRDP danh nghĩa và GRDP thực tế. GRDP danh nghĩa là GRDP tính theo giá hiện hành của năm tình; còn GRDP thực tế (còn gọi là GRDP theo giá so sánh) là tổng sản phẩm nội địa tính theo sản lượng hàng hóa và dịch vụ cuối cùng của năm nghiên cứu còn giá cả tính theo năm gốc (năm gốc được chọn theo quy định của văn bản pháp luật, trong thực tế Việt Nam gần đây chọn năm gốc là năm 1994 và 2010). GRDP thực tế loại trừ được ảnh hưởng của sự biến động của giá cả (lạm phát). GRDP thực tế giúp điều chỉnh lại những sai lệch như sự mất giá của đồng tiền trong việc tính toán GRDP danh nghĩa để có thể ước lượng chuẩn hơn số lượng thực sự hàng hóa và dịch vụ tạo thành GRDP.

Một tiêu chí quan trọng khác hay được sử dụng là GRDP bình quân đầu người (GRDP/người). Nó là chỉ tiêu phản ánh chung mức sống của người dân, được tính bằng tỷ lệ giữa GRDP với tổng dân số trung bình trong năm. Chỉ số GDP bình quân đầu người còn được sử dụng trong việc so sánh mức sống dân cư giữa các quốc gia (GRDP bình quân đầu người được sử dụng để so sánh mức sống dân cư giữa các tỉnh/thành phố với nhau). Gần đây, Ngân hàng Thế giới (World Bank) đã tính mức gia tăng về tổng giá trị của cải xã hội bằng các chỉ số tổng thu nhập quóc dân (GNI) hoặc tổng thu nhập quốc dân bình quân đầu người (GNI/người) nhằm thay thế cho chỉ số GDP/người [44]. GNI khác GDP ở chỗ là được tính dựa trên cơ sở thu nhập của công dân nên phản ánh chính xác mức sống hơn.

GRDP là tiêu chí tiện lợi nhất để tính mức tăng trưởng của một tỉnh/thành phố và là chỉ số phổ biến để so sánh quy mô và tốc độ tăng trường của các nên kinh tế. Tăng trưởng GRDP chính là mức gia tăng GRDP năm sau so với với năm trước và được thể hiện bằng đơn vị tính “phần trăm - %”, biểu diễn bằng công thức toán học:

y = dY/Y x 100 (%)

Trong đó:

y (growth) là tốc độ tăng trưởng,

Y (yield) là qui mô của nền kinh tế.

Từ các khái niệm trên đây, chúng ta có thể hiểu tăng trưởng GRDP là: mức độ tăng trưởng bằng giá trị tổng sản lượng hàng hóa (kể cả hàng hóa hữu hình và hàng hóa vô hình) và dịch vụ cuối cùng được sản xuất trong phạm vi một tỉnh/thành phố trong một năm. Hay nói cách khác là toàn bộ thu nhập của công dân trong tỉnh/thành phố sáng tạo ra (cũng có thể hiểu là tất cả các loại chỉ tiêu trong nền kinh tế: tiêu dùng, đầu tư, mua sắm hàng hóa của cá nhân, hộ gia đình và chính quyền).

Tăng trưởng GRDP to điu kin cho xã hi tiêu dùng hàng hoá-dch vcũng như hàng hoá-dch vcông nhiu hơn, đồng thi góp phn thúc đẩy xã hi phát trin. Nhưng chsGRDP/người hay mc tăng GRDP hàng năm cũng chỉ đại din mc ci thin thu nhp thun túy, tuy nhiên nó còn rt nhiu hn chế để đánh giá mức sng ca mi cá nhân. GRDP chưa tính đến các yếu tca stăng trưởng bn vng, chưa bù đắp cho nhng tn tht ca hsinh thái và môi trường.

3.2 Mức sống dân cư

Mức sống dân cư là trình độ thỏa mãn nhu cầu toàn diện về vật chất và tinh thần thường xuyên tăng lên của người dân, được thể hiện qua thu nhập, chi tiêu của hộ gia đình và chi tiêu bình quân đầu người.

Thu nhập của hộ gia đình là toàn bộ số tiền và giá trị hiện vật mà hộ và các thành viên của hộ nhận được trong một thời gian nhất định, bao gồm: (1) Thu từ tiền công, tiền lương; (2) Thu từ sản xuất nông, lâm nghiệp, thuỷ sản (đã trừ chi phí sản xuất và thuế sản xuất); (3) Thu từ sản xuất ngành nghề phi nông, lâm nghiệp, thuỷ sản (đã trừ chi phí sản xuất và thuế sản xuất); (4) Thu khác được tính vào thu nhập (không tính tiền rút tiết kiệm, bán tài sản, vay thuần tuý, thu nợ và các khoản chuyển nhượng vốn nhận được).

Chi tiêu hộ gia đình là tổng số tiền và giá trị hiện vật mà hộ và các thành viên của hộ đã chi cho tiêu dùng trong một thời gian nhất định, bao gồm cả tự sản, tự tiêu về lương thực, thực phẩm, phi lương thực, thực phẩm và các khoản chi tiêu khác (biếu, đóng góp...). Các khoản chi tiêu của hộ không bao gồm chi phí sản xuất, thuế sản xuất, gửi tiết kiệm, cho vay, trả nợ và các khoản chi tương tự.

Chi tiêu bình quân đầu người của hộ gia đình là toàn bộ số tiền và giá trị hiện vật mà hộ gia đình và các thành viên của hộ đã chi cho tiêu dùng bình quân cho một người trong một thời gian nhất định.

Chi tiêu bình quân của hộ gia đình được tính theo công thức sau:

Chi tiêu bình quân

=


Tổng chi tiêu của hộ gia đình

Số thành viên của hộ

3.3 Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và mức sống dân cư

Giữa tăng trưởng GRDP và nâng cao mức sống dân cư có mối quan hệ khăng khít với nhau. Tuy nhiên, tùy thuộc vào hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia, mỗi địa phương trong mỗi thời kỳ mà mối quan hệ này được thể hiện ra là không giống nhau. Trong nhiều trường hợp, tăng trưởng GRDP là nhân tố quyết định đến tăng mức sống dân cư. Song cũng có rất nhiều quốc gia, địa phương có mức tăng trưởng GRDP khá hoặc cao nhưng mức sống dân cư không được tăng lên tương ứng, thậm chí còn bị suy giảm.

Mức sống dân cư được nâng lên có tác động trở lại tăng trưởng GRDP ở nhiều mức độ và khía cạnh khác nhau. Nâng cao mức sống dân cư vừa là động lực, vừa là mục tiêu của tăng trưởng GRDP. Mức sống dân cư được nâng lên sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế do tăng năng suất lao động (sức khỏe người lao động ngày và kỹ năng lao động ngày càng được cải thiện).

Để thấy rõ mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và mức sống dân cư, chúng ta nghiên cứu mối quan hệ giữa GRDP bình quân đầu người và thu nhập bình quân đầu người.

Tổng sản phẩm trong tỉnh bình quân đầu người 1 được tính bằng cách chia tổng sản phẩm trong tỉnh trong năm cho dân số trung bình trong năm tương ứng. Tổng sản phẩm trong tỉnh bình quân đầu người có thể tính theo giá thực tế, tính theo nội tệ hoặc ngoại tệ (bằng USD theo tỷ giá hối đoái thực tế hoặc tỷ giá sức mua tương đương); cũng có thể tính theo giá so sánh để tính tốc độ tăng.

Công thức tính:

Tổng sản phẩm trong tỉnh bình quân đầu người (VNĐ/người )

 

=

Tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP) trong năm (tính bằng VND)

Dân số trung bình trong cùng năm

Thu nhập bình quân đầu người là chỉ tiêu kinh tế - xã hội quan trọng phản ánh mức thu nhập và cơ cấu thu nhập của các tầng lớp dân cư”. Chỉ tiêu này dùng để đánh giá mức sống, phân hóa giàu nghèo, tính tỷ lệ nghèo làm cơ sở cho hoạch định chính sách nhằm nâng cao mức sống của nhân dân, xóa đói, giảm nghèo.

Thu nhập bình quân đầu người được tính bằng cách chia tổng số thu nhập của hộ dân cư cho số nhân khẩu của hộ.

Thu nhập bình quân đầu người (VNĐ/người )

=

Tổng thu nhập của hộ dân cư trong năm

(tính bằng VND)

Số nhân khẩu bình quân năm của hộ

Chỉ tiêu thu nhập bình quân đầu người gồm 4 khoản nêu trên thì 3 khoản (1), (2) và (3) cũng được tính trong GDP, tương ứng với chỉ tiêu thu nhập của người lao động và thu nhập hỗn hợp. Khoản (4) là phần thu nhập từ sở hữu và thu chuyển nhượng không được tính trong chỉ tiêu GRDP.

           Chỉ tiêu GRDP bình quân đầu người ngoài khoản (1), (2) và (3), còn bao gồm thuế sản phẩm, khấu hao tài sản cố định và thặng dư sản xuất (phần này do doanh nghiệp, nhà nước nắm giữ).

           Như vậy, hai chỉ tiêu này có một yếu tố trùng nhau là thu của người lao động (thu từ sản xuất). Nhưng giữa chúng có khác nhau: Thu nhập bình quân đầu người không bao gồm thuế sản xuất (thu của nhà nước) và khấu hao tài sản cố định, thặng dư sản xuất (thu của doanh nghiệp) nhưng lại bao gồm phần thu nhập sở hữu và chuyển nhượng hiện hành và ngược lại.

4, Thực trạng tăng trưởng GRDP, mưc sống dân cư tỉnh Nghệ An giai đoạn 2011-2015

4.1 Tăng trưởng kinh tế

Giai đoạn 2011-2015, tốc độ tăng trưởng GRDP ở tỉnh Nghệ An đạt ở mức tương đối cao, cao hơn mức tăng bình quân chung của cả nước. Theo giá so sánh năm 2010, đến năm 2015 tổng GRDP đạt 58884 tỷ đồng, tăng bình quân 6,91%/năm. Thu nhập bình quân đầu người đạt 26,8 triệu đồng gấp 1,86 lần so với năm 2010. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, tỷ trọng ngành Nông, lâm nghiệp, thủy sản giảm từ 30,66% xuống còn 29,36%, tỷ trọng ngành Công nghiệp – Xây dựng tăng từ 25,82% lên 29,03%.

Trong mức tăng trưởng bình quân 6,91%/năm có đóng góp của cả 3 khu vực kinh tế, Khu vực Nông, lâm nghiệp, thủy sản giá trị tăng thêm theo giá so sánh năm 2010 đạt 14917 tỷ đồng, tăng bình quân 3,97%/năm và đóng góp 1,09% vào mức tăng trưởng chung; Khu vực Công nghiệp – Xây dựng đạt 16805 tỷ đồng, tăng bình quân 10,19%/năm, đóng góp 2,67%; Khu vực Dịch vụ đạt 23717 tỷ đồng, tăng bình quân 6,35%, đóng góp 2.60%; Thuế sản phẩm 3444 tỷ đồng, tăng bình quân 10,17%/năm và đóng góp 0,55% và mức tăng trưởng chung.

Tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP)

 

Năm 2010

(Tỷ đồng)

Năm 2015

(Tỷ đồng)

Tốc độ tăng bình quân năm (%)

Tổng sản phẩm nội tỉnh theo giá so sánh:

42 169

58 884

6,91

- Nông, lâm nghiệp, thủy sản

12 282

14 917

3,97

- Công nghiệp – xây dựng

10 344

16 805

10,19

- Dịch vụ

17 430

23 717

6,35

- Thuế sản phẩm – trợ cấp SP

2 113

3 444

10,17

Cơ cấu kinh tế

 

 

 

- Nông, lâm nghiệp, thủy sản

28,96

27,68

 

- Công nghiệp – xây dựng

29,89

30,34

 

- Dịch vụ

41,15

41,98

 

GRDP bình quân đầu người

14,37

26,80

13,27

4.2 Mức sống dân cư

Thu nhập bình quân đầu người năm 2015 ước đạt  21,83 triệu đồng, tăng bình quân 14,61%/năm trong giai đoạn 2011-2015. Sau khi loại trừ yếu tố tăng giá thì thu nhập bình quân đầu người tăng 5,61%/năm.

Thu nhập bình quân đầu người ở cả khu vực thành thị và nông thôn đều tăng, nhưng ở khu vực thành thị mức tăng lớn hơn ở khu vực nông thôn, điều này làm cho khoảng cách thu nhập giữa thành thị và nông thôn được nới rộng. Thu nhập ở khu vực thành thị năm 2015 theo giá hiện hành ước đạt 37,69 triệu đồng, tăng bình quân 17,27%/năm, sau khi loại trừ giá thì thu nhập bình quân đầu người khu vực thành thị còn tăng 8,06%; thu nhập ở khu vực nông thôn ước đạt 19,01 triệu đồng, tăng tăng bình quân 13,33%/năm, sau khi loại trừ giá thì thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn còn tăng 4,43%.

Khi chia theo 5 nhóm thu nhập, mỗi nhóm 20% số hộ, thì thu nhập các nhóm đều có sự tăng lên, tuy nhiên nhóm giàu có mức độ tăng nhanh hơn nhóm nghèo, làm cho khoảng cách thu nhập giữa nhóm giàu và nhóm nghèo ngày càng doãng ra. Cụ thể nhóm 1 (nhóm nghèo nhất) có thu nhập bình quân đầu người năm 2015 là 5,97 triệu đồng, tăng bình quân 13,86%/năm, nhóm 5 (nhóm giàu nhất) có thu nhập bình quân đầu người năm 2015 là  45,92 triệu đồng, tăng bình quân  14,37%/năm. Khoảng cách thu nhập giữa nhóm 5 và nhóm 1 tăng từ 7,52 lần năm 2010 lên 7,69 lần năm 2015.

Thu nhập bình quân đầu người

 

Năm 2010

(Triệu đồng)

Năm 2015

(Triệu đồng)

Tốc độ tăng bình quân năm (%)

Thu nhập bình quân đầu người

11,04

21,83

14,61

Chia theo thành thị, nông thôn

 

 

 

Thành Thị

16,99

37,69

17,27

Nông thôn

10,17

19.01

13,33

Chia theo nhóm thu nhập

 

 

 

Nhóm 1

3,12

5,97

13,86

Nhóm 2

5,86

12,00

15,41

Nhóm 2

9,07

18,51

15,33

Nhóm 4

13,65

26,77

14,42

Nhóm 5

23,46

45,92

14,37

Chênh lệch nhóm 5/nhóm 1 (lần)

7,52

7,69

 

Qua phân tích thực trạng ta nhận thấy rằng, thu nhập bình quân đầu người thấp hơn GRDP bình quân đầu người (thu nhập bình quân đầu người bằng 81,45% GRDP bình quân đầu người) như vậy phần khấu hao TSCĐ, thuế sản phẩm và lợi nhuận vẫn có quy mô lớn hơn phần thu nhập khác được tính vào thu nhập như lương hưu, tiền lãi tiết kiệm, cổ phần, cổ phiếu, người ngoài cho biếu; khi kinh tế có tăng trưởng thì mức sống dân cư cũng tăng trưởng theo, và tốc độ tăng của mức sống dân cư thấp hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế nhưng cao hơn tốc độ tăng của GRDP bình quân đầu người; tăng trưởng khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản thấp hơn khu vực công nghiệp – xây dựng và khu vực dịch vụ do đó mức sống của dân cư nông thôn cũng tăng thấp hơn mức sống của khu vực thành thị; những người giàu có (nhóm 5) chủ yếu làm trong lĩnh vực công nghiệp – xây dựng và dịch vụ nên có mức sống tăng nhanh hơn những người nghèo khổ (nhóm 1) làm trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp, thủy sản.

Nguyên nhân:

Khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản do diện tích đất canh tác bị thu hẹp, phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật còn hạn chế nên năng suất của cây trồng, vật nuôi mức tăng thấp, giao thông đi lại khó khăn, sản phẩm chủ yếu là sản phẩm thô, sức cạnh tranh yếu, sản phẩm làm ra chủ yếu là tiêu thụ nội địa, giá cả nguyên vật liệu đầu vào tăng cao dẫn đến lợi nhuận thấp. Từ đó làm cho mức sống của người dân làm trong khu vực này gặp nhiều khó khăn và thấp hơn nhiều so với làm ở ngành công nghiệp – xây dựng hoặc dịch vụ.

Khu vực công nghiệp – xây dựng và dịch vụ có mức tăng trưởng khá hơn khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản và những người làm trong khu vực này thu nhập cũng cao hơn. Tuy nhiên tăng trưởng kinh tế và mức sống dân cư vẫn còn thấp so với tiềm năng và so với các tỉnh trong vùng. Nguyên nhân do khủng hoảng và suy thoái kinh tế toàn cầu, chưa thu hút được nhiêu nhà đầu tư trong và ngoài nước vào làm ăn tại Nghệ An, cài cách hành chính chưa đáp ứng được yêu cầu, cơ chế, chính sách đảm bảo cho doanh nghiệp và người dân sản xuất kinh doanh còn nhiều bất cập, nguồn lao động chất lượng thấp.

Bài học kinh nghiệm:

Cần đẩy mạnh quá trình tái cơ cấu nên kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, hiệu quả và sức cạnh tranh, phát triển các ngành, lĩnh vực có lợi thế, hướng tới phát triển các ngành, sản phẩm có sử dụng hàm lượng khoa học công nghệ, có giá trị gia tăng cao. Tập trung nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển.

5, Mục tiêu và giải pháp nâng cao tốc độ tăng trưởng kinh tế và nâng cao mức sống dân cư và mối quan hệ của nó tỉnh Nghệ An đến năm 2020.

5.1 Mục tiêu

Phát huy nội lực, đẩy mạnh thu hút ngoại lực, phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là trung tâm về tài chính, thương mại, du lịch, giáo dục – đào tạo, khoa học – công nghệ, y tế, văn hóa, thể thao, công nghiệp công nghệ cao của vùng Bắc trung bộ; có hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, từng bước hiện đại; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng cao.

Chỉ tiêu cụ thể:

Tốc độ tăng tổng sản phẩm nội tỉnh GRDP bình quân giai đoạn 2016-2020 là 11%.

Thu nhập bình quân đầu người đạt 70-75 triệu đồng.

Cơ cấu kinh tế: Nông, lâm nghiệp, thủy sản 18-20%; công nghiệp – xây dựng 40-41%; dịch vụ 40-41%.

5.2 Giải pháp

Để đạt được mục tiêu đề ra từ nay cho đến năm 2020, các cấp, các ngành và toàn dân cần chú trọng thực hiện một số giải pháp chủ yếu sau đây:

- Thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới. Khuyến khích nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp, thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn. Đẩy mạnh xây dựng mô hình sản xuất theo hướng liên kết chặt chẽ giữa kinh tế hộ gia đình với doanh nghiệp, với thị trường để đưa nông nghiệp lên quy mô lớn, giá trị gia tăng cao.

- Thực hiện tái cơ cấu công nghiệp, tập trung phát triển các sản phẩm công nghiệp có lợi thế cạnh tranh. Phát triển các ngành công nghiệp có hàm lượng khoa học công nghệ, giá trị gia tăng, thúc đẩy công nghiệp phụ trợ.

- Triển khai có hiệu quả các chương trình xúc tiến thương mại, đầu tư, du lịch. Phát triển các ngành dịch vụ có lợi thế, có giá trị gia tăng như du lịch, viễn thông, công nghệ thông tin, tài chính, ngân hàng... Tăng cường công tác tuyên truyền, quảng bá, tiếp thị để nâng cao vị thế và uy tín của các sản phẩm hàng hóa.

- Cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI). Tăng cường các giải pháp thu hút đầu tư và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực. Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền về môi trường đầu tư kinh doanh và các chính sách hỗ trợ đầu tư của tỉnh, tạo sự đồng thuận cao trong phát triển kinh tế xã hội bằng nhiều hình thức phong phú.

- Tăng cường hỗ trợ các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, các doanh nghiệp sử dụng công nghệ tiên tiến. Chủ động tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế phát triển. Đẩy mạnh các hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp, bồi dưỡng đội ngũ Doanh nhân nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập hiện nay.

- Triển khai thực hiện có hiệu quả Quy trình về trình tự, thủ tục thực hiện dự án đầu tư trực tiếp có sử dụng đất trên địa bàn tỉnh Nghệ An. Triển khai các thủ tục theo cơ chế một cửa liên thông, cho phép thực hiện song song, đồng thời nhiều thủ tục hành chính để giảm bớt thời gian cho nhà đầu tư. Làm tốt công tác xúc tiến đầu tư tại chỗ và tăng cường các hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp sau đầu tư.

- Nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của doanh nghiệp, kinh tế tư nhân, kinh tế tập thể, vai trò của đội ngũ doanh nhân. Đẩy nhanh việc phát triển doanh nghiệp, hợp tác xã, kinh tế tư nhân. Xây dựng đội ngũ doanh nhân giỏi trong đó có một số doanh nhân tầm cỡ quốc gia và quốc tế.

- Đổi mới phương thức hoạt động, quản lý của các doanh nghiệp nhà nước. Chuyển căn bản các hợp tác xã sang tổ chức, hoạt động theo Luật Hợp tác xã. Nâng cao hiệu quả hoạt động Liên minh hợp tác xã, các hội nghề nghiệp để tập hợp và hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã phát triển.

- Tiếp tục cải cách và đơn giản hóa thủ tục hành chính trong đăng ký thành lập doanh nghiệp, cấp phép đầu tư, thuê đất và giải quyết các đề nghị của doanh nghiệp, đảm bảo nhanh chóng, thuận lợi và thiết thực. Phát triển hạ tầng, tạo mặt bằng sản xuất, kinh doanh cho các doanh nghiệp và nhà đầu tư. Phát triển nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp, hợp tác xã.  

- Tăng cường huy động nguồn lực trong và ngoài nước cho đầu tư phát triển. Khuyến khích và tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế tham gia đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, nhất là khu vực nông nghiệp, nông thôn. Thúc đẩy mạnh các hình thức đầu tư ngoài ngân sách nhà nước để tăng nguồn lực đầu tư toàn xã hội, kết hợp với nâng cao chất lượng quản lý đầu tư, đầu tư công.

- Mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh tế đối ngoại, liên kết phát triển. Tiếp tục tăng cường các biện pháp vận động tài trợ vốn ODA, thực hiện đồng bộ, hiệu quả các giải pháp thúc đẩy giải ngân vốn ODA. Đẩy mạnh thu hút và nâng cao chất lượng các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).

- Tập trung các giải pháp tăng thu ngân sách như xây dựng cơ chế, chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế đẩy mạnh hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh và xuất khẩu, qua đó tạo động lực và cơ sở để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo nguồn thu bền vững cho ngân sách. Tăng cường quản lý thu tiền sử dụng đất, thu từ hoạt động xuất nhập khẩu.

- Quản lý chặt chẽ chi ngân sách, bảo đảm chi đúng mục đích, tiết kiệm và hiệu quả. Tăng cường triển khai thực hiện các giải pháp tăng thu ngân sách, chống thất thu, kiên quyết thu hồi nợ đọng. Phấn đấu vượt thu để đầu tư vào các dự án trọng điểm, các vùng kinh tế trọng điểm.

- Khai thác hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả tiềm năng về đất đai, rừng, tài nguyên khoáng sản, tài nguyên biển, tài nguyên lao động.

                                                  Nguồn: Thái Bá Minh - Cục Thống kê Nghệ An

 |  Đầu trang
 
<<   <  1  >  >>
 
 
 
 
 
 
Thư viện ảnh
Skip portletPortlet Menu