Giới thiệu chung
Skip portletPortlet Menu
 
Tin tức - Sự kiện
Skip portletPortlet Menu
 
Lĩnh vực chuyên môn
Skip portletPortlet Menu
 
 
Liên kết website
Skip portletPortlet Menu
 
 
 
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 7 năm 2019 tỉnh Nghệ An (29/07/2019 04:08 PM)

1. Sản xuất nông nghiệp

Tình hình sản xuất nông nghiệp tháng 7/2019 của tỉnh chủ yếu tập trung chăm sóc, gieo cấy vụ Hè Thu và vụ Mùa, bên cạnh đó tích cực phòng trừ các loại sâu bệnh hại cây trồng.

Tính đến ngày 08/7/2019, vụ Hè thu toàn tỉnh ước tính đã gieo cấy được 74.691 ha đạt 97,96% so kế hoạch, tăng 3,64% so cùng kỳ năm trước. Trong đó lúa Hè Thu 59.966 ha, trong lúa Hè Thu có lúa thuần 52.823 ha chiếm 88,09%, còn lại là lúa lai 7.143 ha chiếm 11,91%. Diện tích lúa Hè Thu năm nay đạt cao do lúa vụ Xuân 2019 thu hoạch sớm từ 10-15 ngày, thuận lợi cho việc bố trí công tác sản xuất lúa Hè Thu sớm, như: làm đất kỹ, chọn giống lúa, gieo mạ. Vụ Hè Thu tập trung ở một số huyện: Yên Thành 11.992 ha, Diễn Châu 8.695 ha, Đô Lương trên 7.847 ha, Nghi Lộc 5.883 ha, Nam Đàn 5.843 ha, Thanh Chương trên 5.100 ha, Quỳnh Lưu 4.960 ha, Hưng Nguyên 4.273 ha,…

Để đảm bảo thời gian cho sản xuất vụ Đông và né tránh lụt cuối vụ, bên cạnh đó để cây trồng cho năng suất cao bà con đã sử dụng một số giống chính ngắn ngày như: Khang dân đột biến, Khang dân cải tiến, Thiên ưu 8, Vật tư NA2, Vật tư NA6, TBR225, Hương thơm số 1, Bắc thơm 7, … Lúa lai: Kinh sở ưu 1588, Nhị ưu 986, Thái Xuyên 111, 27P31, VT404,…

Diện tích gieo trồng cây hoa màu vụ Hè Thu ước đạt 14.724,9 ha trong đó 3.780,6 ha ngô; rau đậu các loại 5.255,9 ha; vừng 2.823,7 ha; lạc 369,0 ha; khoai lang 175,2 ha và cây hàng năm khác 773,05 ha.

Tính đến ngày 08/7/2019, vụ Mùa đã gieo trồng được 67.175 ha/83.000 ha đạt 80,93% so với kế hoạch và bằng 65,67% cùng kỳ năm 2018. Trong đó diện tích lúa đã gieo trồng được 20.721 ha/36.000 ha, đạt 57,56% kế hoạch, chỉ bằng 59,14% so với cùng kỳ năm 2018. Do nắng nóng kéo dài trên diện rộng, nhiều diện tích khô hạn, không có nước phục vụ cho việc làm đất gieo trồng, tình hình gieo trồng một số huyện như sau: huyện Tương Dương 1.688 ha/4.630 ha so kế hoạch và bằng 36,45%; huyện Anh Sơn 310 ha/2.400 ha so với kế hoạch, bằng 12,92%; huyện Con Cuông 26,98% (521 ha/1930 ha); Các huyện khác chủ động hơn về nguồn nước và gieo trồng được như sau: huyện Quỳnh Lưu ước đạt 821 ha/1.250 ha so kế hoạch, bằng 65,68%; thị xã Thái Hòa ước đạt 594 ha/760 ha so kế hoạch và bằng 78,16%; huyện Quế Phong ước đạt 1.670 ha/2.430 ha so kế hoạch bằng 68,72%; huyện Nghĩa Đàn ước đạt 2.200 ha/3.200 ha so kế hoạch, bằng 68,75%; huyện Quỳ Hợp ước đạt 1.000 ha/1.100 ha so với kế hoạch và bằng 86,21% ;... Các cây trồng hàng năm khác như: Cây ngô, diện tích gieo trồng ước đạt là 5.148,4 ha bằng 46,84% so với cùng kỳ năm trước; so với kế hoạch cũng chỉ bằng 57,2%, cây rau, đậu các loại: diện tích gieo trồng ước đạt 1.128,6 ha, trong đó rau các loại là 382,1 ha, so với kế hoạch rau các loại chỉ đạt 32,25%, so với cùng vụ chỉ bằng 20,37%. Đậu lấy hạt các loại là 884 ha so với kế hoạch đạt 52%, so với cùng vụ bằng 51,44%. Cây lạc: diện tích gieo trồng ước đạt 70,5 ha và đạt 14,1% kế hoạch, bằng 17,51% so với cùng kỳ…

Đối với cây lâu năm như Chè, Cao su, Dứa…hiện nay đang là thời điểm nắng nóng gay gắt nhất trong năm chính vì vậy doanh nghiệp và bà con nông dân đang tập trung chăm sóc cây giống, chuẩn bị vật tư, phân bón để trồng mới vụ Thu 2019 đạt kế hoạch đề ra.

                Tình hình Chăn nuôi: Tổng đàn trâu tại thời điểm tháng 7/2019 ước đạt 272.410 con, giảm 0,9% (-2.470 con) so với cùng kỳ năm trước; tổng đàn bò ước đạt 471.630 con, tăng 2,23% (+10.276 con), trong đó bò sữa 59.057 con, giảm 6,45% (-4.073 con); đàn lợn ước đạt 890.780 con, giảm 1,1% (-10.010 con) so cùng kỳ năm 2018; Tổng đàn gia cầm ước đạt 24.577 nghìn con, tăng 6,45% (+1.490 nghìn con), trong đó đàn gà ước đạt 20.583 nghìn con, tăng 7,28% (+1.396 nghìn con) so cùng kỳ năm 2018.

                Nguyên nhân tổng đàn trâu giảm là do diện tích đồng cỏ tự nhiên, bãi chăn thả bị thu hẹp tận dụng cho sản xuất; chương trình cơ giới hoá sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp ngày càng mở rộng từ đồng bằng cho tới miền núi thay cho sức kéo đàn trâu. Chăn nuôi bò hàng hóa tăng nhanh vì cho hiệu quả kinh tế cao và nhu cầu tiêu dùng thịt bò của người dân luôn ổn định, hơn nữa phương thức chăn nuôi ngày càng được cải tiến do đó người dân đầu tư chăn nuôi bò nhiều hơn.

                Nguyên nhân số bò sữa trên địa bàn tỉnh giảm là do những tháng cuối năm 2018 công ty sữa TH tại huyện Nghĩa Đàn đã chuyển 5.000 con bò sữa về trang trại chăn nuôi bò sữa ở tỉnh Lâm Đồng.

                Hiện nay, do sự bùng phát mạnh mẽ của dịch tả lợn Châu Phi đã ảnh hưởng lớn đến đàn lợn trên địa bàn tỉnh Nghệ An. Do tâm lý lo sợ dịch bệnh nên nhiều hộ chăn nuôi bán lợn chạy dịch và không tái đàn để chuyển sang đầu tư cho các loại vật nuôi khác. Do đó nguồn cung thịt lợn vào cuối năm nay có thể giảm mạnh, có thể giá thịt lợn sẽ tăng trong thời gian tới.

                Tính đến thời điểm hiện tại trên địa bàn tỉnh Nghệ An, dịch tả lợn Châu Phi đã xuất hiện tại 1.960 hộ, 410 xóm, 148 xã trên địa bàn 18 huyện, thành phố, thị xã (ngoại trừ 3 huyện, thị xã: Nghĩa Đàn, Thái Hoà, Cửa Lò) và đã có 5 huyện công bố hết dịch là Thanh Chương, Anh Sơn, Nam Đàn, Quỳ Hợp, Quỳ Châu. Tổng số lợn đã tiêu huỷ là 7.948 con, với tổng trọng lượng tiêu hủy là 358,32 tấn.

                2. Sản xuất lâm nghiệp

Trong tháng 7 năm 2019, diện tích trồng rừng tập trung ước đạt 574 ha, giảm 0,69 % (-4 ha). Tuy thời tiết nắng nóng kéo dài, nhưng do có mưa ở những ngày đầu tháng nên các chủ rừng, hộ dân ở các huyện nhất là huyện miền núi vẫn tranh thủ trồng rừng. Diện tích rừng trồng mới tập trung 7 tháng đầu năm ước đạt 7.586 ha, tăng 0,3% (+23 ha) so với cùng kỳ năm 2018.

Sản lượng gỗ khai thác tháng 7 ước tính đạt 102.437 m3, tăng 19,72% (+16.873 m3) so với cùng kỳ năm 2018. Tổng sản lượng gỗ khai thác 7 tháng năm 2019 ước tính đạt 605.042 m3, tăng 11,09% (+60.422 m3) so với cùng kỳ năm 2018. Sản lượng gỗ khai thác tăng chủ yếu do rừng sản xuất (keo, bạch đàn, xoan) cho năng suất cao, với giống cây lâm nghiệp có sản lượng gỗ khai thác ngày càng nhiều, giá thu mua gỗ ổn định, thời tiết khô ráo dễ vận chuyển, ngoài ra nhu cầu sử dụng gỗ nguyên liệu cho sản xuất công nghiệp và xuất khẩu ngày càng tăng.

Sản lượng củi khai thác trong tháng 7 năm 2019 ước đạt 100.690 ste, tăng 0,52% (+520 ste) so với cùng kỳ năm 2018. Sản lượng củi khai thác 7 tháng đầu năm ước đạt 712.646 ste, tăng 0,36% (+2.581 ste) so cùng kỳ năm trước, chủ yếu do đồng bào dân tộc miền núi, những hộ dân có thu nhập thấp khai thác làm chất đốt.

Các đơn vị, chủ rừng phối hợp với chính quyền địa phương tiếp tục tuyên truyền vận động người dân quản lý, bảo vệ tốt 956.705 ha diện tích đất có rừng. Diện tích rừng được giao khoán bảo vệ có kinh phí là 619.914 ha.

Từ đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh xảy ra 14 vụ cháy rừng, gây thiệt hại về tổng diện tích bị cháy 60,95 ha; trong đó đất có rừng 32,25 ha; Đất chưa có rừng: 28,7 ha (Trảng cỏ lau lách, cây bụi); Nguyên nhân do thời tiết năm nay diễn biến phức tạp, có nhiều đợt nắng nóng kết hợp gió tây nam kéo dài gay gắt hơn các năm trước, nhiệt độ tăng cao ảnh hưởng trực tiếp đến công tác phòng chống cháy rừng.

Trong tháng 7 năm 2019, đã phát hiện và bắt giữ 45 vụ vi phạm lâm luật, tịch thu: 43,9 m3 gỗ các loại (gỗ tròn 23,4 m3; gỗ xẻ 20,5 m3). Phạt tiền với 285 triệu đồng, Tính chung từ đầu năm đã phát hiện xử lý 339 vụ vi phạm lâm luật, tịch thu 470 m3 gỗ các loại, thu nộp ngân sách 2.509 triệu đồng.

3. Sản xuất thủy sản

                Trong tháng 7/2019, diện tích mặt nước ước đạt 359 ha tăng 2,57% (+9 ha) so cùng kỳ năm trước. Trong đó: diện tích nuôi cá 178 ha, diện tích nuôi tôm 177 ha tăng 4,73% (+8 ha), diện tích thủy sản khác 4 ha, tăng 33,33% (+1 ha). Tính chung 7 tháng đầu năm ước đạt 20.174 ha tăng 0,38% (+77 ha) so cùng kỳ năm trước, trong đó: diện tích nuôi cá 18.324 ha, diện tích nuôi tôm 1.641 ha, diện tích thủy sản khác 209 ha, (không tính diện tích nuôi lồng bè, bể bồn).

                Tổng sản lượng thủy sản tháng 7 ước đạt 20.697 tấn, tăng 8,10% (+1.551 tấn), trong đó; cá 16.156 tấn, tăng 8,72% (+1.296 tấn); tôm 2.402 tấn, tăng 2,87% (+67 tấn); thủy sản khác ước đạt 2.139 tấn, tăng 9,64% (+188 tấn), lũy kế 7 tháng với tổng sản lượng thủy sản nuôi trồng ước đạt 128.171 tấn, tăng 8,82% (+10.385 tấn), cá ước đạt 104.710 tấn, tôm ước đạt 5.512 tấn, thủy sản khác ước đạt 17.949 tấn.

                Sản lượng thủy sản khai thác tháng 7 ước đạt 14.163 tấn, tăng 10,04 % (+1.292 tấn), trong đó: Sản lượng khai thác thủy sản biển ước đạt 13.589 tấn, tăng 10,44% (+1.285 tấn); Sản lượng khai thác thủy sản nội địa ước đạt 574 tấn, tăng 1,23% (+7 tấn). Lũy kế 7 tháng từ đầu năm ước đạt 96.331 tấn, tăng 10,19% (+8.906 tấn) so cùng kỳ năm trước.            

Để đáp ứng nhu cầu nuôi trồng thủy sản của nhân dân trong và ngoài tỉnh, các cơ sở sản xuất giống với sản lượng tháng 7 ước đạt 178 triệu con, tăng 8,54% (+14 triệu con), trong đó; giống cá 5 triệu con, giống tôm 170, tăng 8,19%(+ 14 triệu con), giống thủy sản khác 3 triệu con, lũy kế đưa 7 tháng ước đạt 1.989 triệu con, cá 278 triệu con, tôm 1.600 triệu con, thủy sản khác 111 triệu con.

Trong tháng 7, trên địa bàn tỉnh tình hình nuôi trồng thủy sản ổn định không có dịch bệnh xảy ra.

4. Sản xuất công nghiệp

Tháng 7 năm 2019, ngành công nghiệp Nghệ An tăng trưởng chậm hơn so với kịch bản đề ra. Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 7/2019 tăng 8,16% so với cùng kỳ năm 2018, cụ thể công nghiệp khai khoáng tăng 18,05%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 18,09%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí giảm 19,05%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 2,65%.

Nguyên nhân là do một số nhà máy khó khăn về tài chính, không tuyển dụng được lao động, sản phẩm sản xuất ra khó tiêu thụ, dây chuyền sản xuất lạc hậu, ngừng sản xuất để sửa chữa lớn và chuyển đổi dây chuyền nên sản lượng sản xuất ra giảm.

                Nhiều sản phẩm chủ yếu tăng trong tháng như: Quặng thiếc ước đạt 19,2 tấn, tăng 23,08%; Đá xây dựng khác ước đạt 283 nghìn m3, tăng 19,06%; Thức ăn gia súc ước đạt 10,8 nghìn tấn, tăng 45,37%; Xi măng ước đạt 578 nghìn tấn, tăng 86,26%; Bao bì ước đạt 4,9 nghìn chiếc, tăng 33,8%; Phân NPK tăng 5 lần; Sữa chua ước đạt 3.000 tấn, tăng 31,67%; Điện thương phẩm ước đạt 320 triệu KWh, tăng 8,1%; Nước máy ước đạt 2,6 triệu m3 tăng 7,53% so với cùng kỳ;… Bên cạnh đó một số sản phẩm giảm so với cùng kỳ năm trước như: Đá xây dựng qua chế biến ước đạt 64 nghìn m3, giảm 17,67%; Vỏ hộp lon bia ước đạt 479 tấn, giảm 40,57%; Nắp lon bia ước đạt 1,1 tấn, chỉ bằng 3,67%. Thép cán nóng ước đạt 670 tấn, giảm 14,29%; Tôn lợp ước đạt 47 nghìn tấn, giảm 11,33%; Sợi ước đạt 1300 tấn giảm 23,84%; Điện sản xuất trong tháng ước đạt 260 triệu KWh, giảm 18,74%;…

Tính chung 7 tháng từ đầu năm 2019, chỉ số sản xuất công nghiệp chỉ tăng 7,2% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm khai khoáng tăng 1,7%; chế biến, chế tạo tăng 9,69%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí giảm 2,09%; Nguyên nhân do tài nguyên khoáng sản ngày càng cạn kiệt, khai thác khoáng sản ngày càng khó khăn, đơn giá đền bù đất đai hoa màu cao, nhiều doanh nghiệp vỡ nợ đã tạm ngừng hoạt động hoặc chuyển sang kinh doanh lĩnh vực khác. Một số sản phẩm ngành công nghiệp chế biến có mức tăng trưởng thấp và giảm do ảnh hưởng chính sách thương mại giữa Mỹ - Trung nên mức tiêu thụ giảm, lượng hàng tồn kho lớn nên các nhà máy hạn chế sản xuất để tiêu thụ sản phẩm. Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước, và điều hòa không khí đang vào đỉnh điểm mùa khô, lưu lượng nước trong các hồ chứa thấp mức kỷ lục nên sản lượng điện sản xuất giảm mạnh.

Tình hình sản xuất một số sản phẩm chính trong 7 tháng từ đầu năm và so với cùng kỳ năm 2018. Trong đó, có những sản phẩm tăng trong kỳ: Bia đóng chai ước đạt 36 triệu lít, tăng 25,06%; Bao bì bằng giấy ước đạt 32,4 triệu chiếc, tăng 62,76%; Xi măng ước đạt 3495,3 nghìn tấn, tăng 43,93%; Vỏ bào dăm gỗ ước đạt 323,2 nghìn tấn, tăng 45,10%; Thức ăn gia súc ước đạt 75,1 nghìn tấn, tăng 32,4%; Sữa tươi ước đạt 123,8 triệu lít, tăng 15,14%; Sản lượng Điện thương phẩm ước đạt 1.965 triệu KWh, tăng 9,34%;… Những sản phẩm chủ lực giảm trong kỳ: Quặng thiếc khai thác ước đạt 125,9 tấn, giảm 0,47%; đá xây dựng qua chế biến ước đạt 398,2 nghìn m3, giảm 17,44%; Đá xây dựng khác ước đạt 1.532 nghìn m3, giảm 6%; Ống thép Hoa Sen ước đạt 14 nghìn tấn, giảm 27,15%; Khăn quàng ước đạt 4,7 triệu cái, giảm 13,49%, Tôn lợp ước đạt 361,1 nghìn tấn, giảm 23,17%; Sợi ước đạt 8,6 nghìn tấn, giảm 22,85%; Thép cán nóng ước đạt 3,4 nghìn tấn, giảm 23,43%; Bột đá ước đạt 324 nghìn tấn, giảm 12,85%; Điện sản xuất ước đạt 1.418 triệu KWh giảm 1,03%;...

5. Đầu tư và xây dựng

Trong 7 tháng đầu năm 2018, lĩnh vực đầu tư xây dựng chưa có nhiều khởi sắc, không có nhiều công trình lớn khởi công, chủ yếu tiếp tục thực hiện các công trình chuyển tiếp. Vốn đầu tư thực hiện thuộc ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý tháng 7/2019 ước đạt 493,7 tỷ đồng, tăng 0,26% so với cùng kỳ. Cộng dồn 7 tháng từ đầu năm vốn đầu tư thực hiện thuộc ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý 3.043,7 tỷ đồng giảm 3,47% so cùng kỳ năm 2018.

Vốn đầu tư chủ yếu tập trung ở các công trình xây dựng lớn, trọng điểm của tỉnh như: Đường giao thông nối QL1A - Huyện Nghĩa Đàn - Thị xã Thái Hoà, Đường Mường Xén - Ta Đo - Khe Kiền, Đường giao thông nối Vinh - Cửa Lò, đường bộ cao tốc Bắc - Nam đoạn qua tỉnh Nghệ An, các dự án tại Cảng hàng không quốc tế Vinh, dự án khôi phục nâng cấp hệ thống thủy lợi Bắc (JICA), dự án Khu vui chơi giải trí Cửa Hội, cầu Cửa Hội qua sông Lam, dự án Hồ chứa nước Bản Mồng, khôi phục vùng ngập lũ tỉnh Nghệ An, Xây dựng công trình đường giao thông nối đường N5 Khu KT Đông Nam đến Hòa Sơn, Đô Lương, Kè chống sạt lở bờ hữu sông Nam Cấm và nơi neo đậu tàu thuyền phòng tránh thiên tai phường Nghi Tân, thị xã Cửa Lò, dự án bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ Thanh Chương giai đoạn 2012 – 2020, Xây dựng nhà giảng đường trường đại học y khoa Vinh (cơ sở 2), Xây dựng Trung tâm điều dưỡng phục hồi chức năng Cửa Lò, mương thoát nước vùng nông nghiệp ven hồ điều hóa, Bảo tồn, tôn tạo di tích lịch sử văn hóa Đền Quả Sơn huyện Đô Lương, cải tạo nâng cấp trường THCS Đặng Thai Mai,…

6. Thu chi ngân sách

Tổng thu ngân sách trên địa bàn tỉnh 7 tháng đầu năm 2019 ước đạt 8.767,2 tỷ đồng, bằng 64,95% của dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao và tăng 20,12% so với cùng kỳ năm 2018, trong đó thu nội địa ước đạt 7.781,2 tỷ đồng, bằng 65,96% của dự toán giao, tăng 22,8%, trong thu nội địa có thu nội địa không kể thu tiền sử dụng đất ước đạt 5.994,4 tỷ đồng, bằng 63,7% dự toán đã giao, tăng 21,1%. Nhiều khoản thu so với dự toán đạt cao với cùng kỳ như: Thu từ khu vực CTN-DV ngoài quốc doanh ước đạt 2.774,4 tỷ đồng, bằng 61,79% dự toán và tăng 16,15%; Thu tiền sử dụng đất ước đạt 1.787,8 tỷ đồng, bằng 75,75% dự toán và tăng 28,67%; Thu từ hoạt động xuất nhập khẩu 985 tỷ đồng, bằng 57,94% dự toán và tăng 2,49%;… Bên cạnh đó,  thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 133,5 tỷ đồng, bằng 51,3% dự toán, giảm 4,8%;

Tổng chi ngân sách 7 tháng ước đạt 14.346,2 tỷ đồng, bằng 58,93% dự toán. Trong đó chi đầu tư phát triển 3.750 tỷ đồng, bằng 72,21% dự toán; chi thường xuyên 10.423,9 tỷ đồng, bằng 55,62% dự toán. Các khoản chi quan trọng trong chi thường xuyên đều bảo đảm như: Chi sự nghiệp kinh tế 1.090,7 tỷ đồng, bằng 58,21% dự toán; chi sự nghiệp giáo dục đào tạo 4.485,2 tỷ đồng, bằng 55,74% dự toán; chi sự nghiệp y tế 1.195,3 tỷ đồng, bằng 56,66%; chi quản lý hành chính 1.955 tỷ đồng, bằng 57,35% dự toán. Phân theo chức năng và nhiệm vụ chi ngân sách Nhà nước bao gồm: Chi tích lũy là chi cho tăng cường cơ sở vật chất như đầu tư phát triển kinh tế và kết cấu hạ tầng, trong đó phần lớn là xây dựng cơ bản, khấu hao tài sản xã hội. Chi tiêu dùng là không tạo ra sản phẩm vật chất để xã hội sử dụng trong tương lại (chi bảo đảm xã hội), bao gồm: giáo dục, y tế, công tác dân số, khoa học và công nghệ, văn hóa, thông tin đại chúng, thể thao, lương hưu và trợ cấp xã hội, quản lý hành chính, an ninh- quốc phòng, các khoản liên quan đến can thiệp của chính phủ vào các hoạt động kinh tế, Dự trữ tài chính, Trả nợ vay nước ngoài, lãi vay nước ngoài, các khoản chi khác.

7. Thương mại, giá cả

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 7/2019 theo giá hiện hành ước đạt 6.813,2 tỷ đồng, tăng 14,01% so với cùng kỳ năm trước, đưa tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 7 tháng đầu năm 2019 ước đạt 45.014,7 tỷ đồng, tăng 13,76% so với cùng kỳ năm trước.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa tháng 7/2019, ước đạt 5.310,32 tỷ đồng, chiếm 77,94% tổng mức bán lẻ hàng hóa, dịch vụ, tăng 1,16% so với tháng trước và tăng 13,84% so với cùng kỳ năm trước. Tổng mức bán lẻ hàng hóa 7 tháng, ước đạt 36.033,5 tỷ đồng, tăng 13,95% so cùng kỳ năm 2018.

Tính chung 7 tháng từ đầu năm phân theo nhóm ngành hàng ước đạt: Lương thực, thực phẩm 11.537,5 tỷ đồng, tăng 16,55%; Hàng may mặc 2.223,6 tỷ đồng, tăng 6,78%; Đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình 4.558,1 tỷ đồng, tăng 9,49%; Vật phẩm văn hóa giáo dục 370,55 tỷ đồng, tăng 6,40%; Gỗ và vật liệu xây dựng 2.411,0 tỷ đồng, tăng 3,56%; Ô tô 5.577,9 tỷ đồng, tăng 13,45%; Phương tiện đi lại 2.642,8 tỷ đồng, tăng 11,82%; Xăng dầu các loại 3.437,9 tỷ đồng, tăng 28,94%; Nhiên liệu khác 354,0 tỷ đồng, tăng 14,38%; Đá quý, kim loại quý các loại 487,9 tỷ đồng, tăng 17,14%; Hàng hóa khác 1.359,1 tỷ đồng, tăng 13,99%; Sửa chữa xe có động cơ, mô tô, xe máy 1.072,8 tỷ đồng, tăng 14,61% so với cùng kỳ năm trước.

Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tháng 7/2019, ước đạt 954,6 tỷ đồng, chiếm 14,01% tổng mức bán lẻ hàng hóa, dịch vụ, tăng 15,21% so cùng kỳ năm 2018. Trong đó: doanh thu ngành dịch vụ lưu trú ước đạt 161,2 tỷ đồng, tăng 12,89%; doanh thu dịch vụ ăn uống ước đạt 774,8 tỷ đồng, tăng 15,69%; doanh thu dịch vụ lữ hành ước đạt 18,63 tỷ đồng, tăng 16,03%.

Lũy kế 7 tháng đầu năm, doanh thu ngành dịch vụ lưu trú ước đạt 806,5 tỷ đồng tăng 12,77%; Dịch vụ ăn uống ước đạt 4.375,4 tỷ đồng, tăng 15,17%; Dịch vụ lữ hành và hoạt động hỗ trợ du lịch ước đạt 98,2 tỷ đồng, tăng 11,85 so cùng kỳ năm 2018.

Về hoạt động lưu trú, du lịch, lữ hành: trong tháng 7 lượt khách phục vụ ước đạt 755,99 nghìn lượt khách, tăng 15,24% so cùng kỳ năm 2018; ngày khách phục vụ 977,58 nghìn ngày khách, tăng 14,79%; lượt khách du lịch theo tour 6.328 lượt khách, tăng 32,12%; ngày khách du lịch theo tour 20.823 ngày khách tăng 21,82%. Tính chung 7 tháng từ đầu năm lượt khách phục vụ ước đạt 3.829,95 nghìn lượt khách, tăng 12,31% so cùng kỳ năm 2018; ngày khách phục vụ 4.927,8 nghìn ngày khách, tăng 11,79%; lượt khách du lịch theo tour 32.968 lượt khách, tăng 21,57%; ngày khách du lịch theo tour 109.748 ngày khách tăng 13,41%.

Giá cả thị trường:

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 7 năm 2019 tăng 0,15% so với tháng trước, tăng 1,46% so cùng kỳ năm trước, tăng 1,22% so với tháng 12 năm 2018, CPI bình quân cùng kỳ tăng 1,91%. Có 8/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng so với tháng trước: hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,65%, đồ uống và thuốc lá tăng 0,65%, giáo dục tăng 0,39%, hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,31%, thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,3%, văn hóa giải trí và du lịch tăng 0,29%, nhà ở điện nước chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,23%, may mặc mũ nón và giày dép tăng 0,18%, chỉ có nhóm hàng giao thông giảm 0,85%, bên cạnh đó có 2 nhóm chỉ số giữ nguyên không thay đổi là Thuốc và dịch vụ y tế, bưu chính viễn thông.

Bình quân chung 7 tháng đầu năm 2019 chỉ số giá tiêu dùng CPI tăng 1,91% so với cùng kỳ, trong 11 nhóm hàng hóa có 10 nhóm tăng, trong đó có một số nhóm hàng tăng mạnh như: nhóm hàng thực phẩm tăng 3,77%, nhóm hàng giáo dục tăng 5,18%, nhóm hàng dịch vụ giáo dục tăng 5,68%; Còn lại nhóm hàng nhà ở, điện nước, chất đốt và vlxd không tăng.

 Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ không sử dụng để tính Chỉ số giá tiêu dùng, Chỉ số giá vàng tăng 4,76%, tháng 7/2019, tăng 4,76% so với tháng trước. So với cùng kỳ tăng 7,15%. Bình quân cùng kỳ tăng 0,65%. Bên cạnh đó chỉ số giá đô la Mỹ giảm 0,38%, tháng 7/2019, giá đô la Mỹ tháng 7/2019 giảm 0,38% so với tháng trước. So với cùng kỳ tăng 0,92%. Bình quân  cùng kỳ tăng 2,02%.

8. Vận tải

Vận chuyển hành khách tháng 7/2019 ước đạt 8.128,6 nghìn khách, tăng 16,31% so cùng kỳ năm 2018, khối lượng luân chuyển hành khách ước đạt 656,5 triệu khách.km, tăng 15,70%, doanh thu vận tải hành khách ước đạt 196,2 tỷ đồng tăng 15,13 %. Tính chung 7 tháng đầu năm 2019, khối lượng vận chuyển hành khách ước đạt 60,4 triệu lượt khách, tăng 15,67%; khối lượng luân chuyển hành khách ước đạt 4.901,5 triệu khách.km, tăng 15,61%, doanh thu vận tải hành khách ước đạt 1.466,98 tỷ đồng, tăng 16,89%.

Vận tải hành khách tăng do thời tiết nắng nóng của mùa Hè, cùng với kỳ nghỉ Hè của học sinh, sinh viên nên nhu cầu đi lại và du lịch tăng cao. Các đơn vị kinh doanh vận tải đã nhạy bén để nắm bắt nhu cầu đi lại, tăng thêm phương tiện, bố trí tuyến hợp lý nhằm tạo điều kiện thuận lợi để hành khách đi lại an toàn, tránh nhỡ chuyến hoặc ùn tắc. Bên cạnh đó, tỉnh đã tổ chức những ngày lễ hội truyền thống, các sự kiện lớn, những ngày nghỉ lễ như: giỗ tổ Hùng Vương, ngày 30/4-1/5…

Khối lượng vận chuyển hàng hoá tháng 7/2019 ước đạt 8.410,5 nghìn tấn tăng 13,35% so cùng kỳ năm 2018; khối lượng luân chuyển hàng hóa ước đạt 271.134,6 nghìn tấn.km tăng 11,92%; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 513,4 tỷ đồng, tăng 14,27 %; khối lượng vận chuyển hàng hóa 7 tháng đầu năm ước đạt 51.731,8 nghìn tấn tăng 17,6 % và khối lượng luân chuyển ước đạt 2.051.415,1 nghìn tấn.km tăng 12,19%; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 3.830,61 tỷ đồng tăng 14,88% so với cùng kỳ năm 2018.

Doanh thu vận tải, bốc xếp tháng 07/2019, ước đạt 103,48 tỷ đồng, tăng 5,19% so cùng kỳ năm trước. Đưa doanh thu hoạt động kho bãi và dịch vụ hỗ trợ 7 tháng đầu năm ước đạt 747,59 tỷ đồng, tăng 11,22 %. Tính chung doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải 7 tháng là 6.047,24 tỷ đồng tăng 14,93% so cùng kỳ năm 2018.

9. Một số vấn đề xã hội

a. Dịch bệnh

Tính từ ngày 10/6/2018 đến 10/7/2018, trên địa bàn toàn tỉnh không xẩy ra ca dịch tả nào, tiêu chảy đã xẩy ra 740 ca giảm 17,13% (-153 ca) so cùng kỳ năm 2018. Tính chung 7 tháng từ đầu năm đã xẩy ra 5.068 ca giảm 12,39% (-717 ca). Nguyên nhân tiêu chảy giảm do ngành Y tế đã phối hợp tốt với các ngành tổ chức tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân về công tác phòng bệnh, chữa bệnh tiêu chảy, thực hiện ăn chín uống sôi, không ăn tiết canh các loại,... Tiêu chảy xảy ra nhiều ở các huyện, thành phố, thị xã: Thành phố Vinh 139 ca, Quế Phong 131 ca, Tương Dương 99 ca, Quế Phong 117 ca, Hưng Nguyên 54 ca, Thị xã Hoàng Mai 52 ca, Kỳ Sơn 51 ca, Nghi Lộc 48 ca,...

Tình hình sốt rét: Trong kỳ xảy ra 52 ca, tăng 32 ca so với cùng kỳ năm trước và tăng 36 ca so với tháng trước, xảy ra ở huyện Quỳ Hợp 39 ca, Kỳ Sơn 13 ca. Cộng dồn 7 tháng đã xảy ra 96 ca tăng 28% (+21 ca) so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân tăng do thời tiết nắng nóng người dân chủ quan không dùng màn, ý thức giữ gìn vệ sinh ở các khu vực ẩm ướt chưa được quan tâm nhiều đây chính là nơi muỗi sinh sôi phát triển nhiều.

Sốt xuất huyết: Trong kỳ xảy ra 1 vụ ở thành phố Vinh. Tính chung 7 tháng từ đầu năm xảy ra 5 vụ và tăng 5 vụ so với cùng kỳ năm trước.

                Ngộ độc: Trong kỳ đã xảy ra 325 vụ ngộ độc, giảm 20,73% (-85 vụ) so cùng kỳ năm 2018. Cộng dồn 7 tháng đã xảy ra 1.637 vụ ngộ độc giảm 8,09% (-144 vụ). Số người ngộ độc trong tháng 7 là 325 người, giảm 20,92% (-86 người), cộng dồn 7 tháng số người bị ngộ độc 1.683 người, giảm 6,91% (-125 người).

                Tình hình lây nhiễm HIV: tính đến ngày 31/5/2019 số người bị nhiễm HIV là 12.094 người, xẩy ra 21/21 huyện, thành phố, thị xã với 449/480 xã, phường, thị trấn trong tỉnh, cụ thể ở các huyện là: Thành phố Vinh 1.870 người, Quế Phong 1.939 người, Tương Dương 1.071 người, Quỳ Châu 903 người, Đô Lương 405 người, Diễn Châu 537 người, Thái Hoà 300 người, Thanh Chương 381 người, Con Cuông 297 người, Quỳ Hợp 421 người, Nghĩa Đàn 212 người, Yên Thành 209 người, Nghi Lộc 191 người, Nam Đàn 186 người, Tân Kỳ 217 người, Hưng Nguyên 187 người, Cửa Lò 122 người, Quỳnh Lưu 147 người, Kỳ Sơn 103 người, Hoàng Mai 72 người, Anh Sơn 85 người.

                Số người bị bệnh AIDS: Luỹ kế tính đến 31/5/2019 có 7.052 người, trong đó: nội tỉnh có 6.290 người, chiếm 89,19 %; ngoại tỉnh có 762 người, chiếm 10,81%. Số người chết do AIDS là 4.272 người; nội tỉnh 4.084 người chiếm 95,60%; ngoài tỉnh 188 người chiếm 4,40%.

                b. Trật tự an toàn xã hội

Tình hình phạm pháp kinh tế diễn biến phức tạp. Buôn bán hàng cấm, hàng không rõ nguồn gốc thu giữ 138 kg pháo, 203 kg thuốc nổ, 3.820 con gia cầm, 39 con gia súc, 102 m3 khoáng sản, 4 m3 gỗ các loại. Trong tháng xảy ra 75 vụ bắt giữ 83 đối tượng, giảm 14 vụ hay giảm 15,73%, số đối tượng giảm 13 đối tượng hay giảm 13,54% so cùng kỳ năm 2018.

Phạm pháp hình sự: Trong tháng 7 đã xảy ra 86 vụ với 121 đối tượng. Trong đó: Trộm 7 xe máy, 3 xe đạp điện, 1 máy tính xách tay và một số hàng hóa khác ước tính giá trị khoảng 410 triệu đồng, giảm 29 vụ (-25,22%), số đối tượng giảm 42 người (-25,77%) so với cùng kỳ năm 2018.

Buôn bán, vận chuyển, tàng trữ ma tuý: Trong tháng đã xảy 81 vụ với 90 đối trong đó: thành phố Vinh 23 vụ 25 đối tượng, Tương Dương 7 vụ, với 7 đối tượng, Quế Phong 10 vụ với 11 đối tượng, Quỳ Châu 9 vụ với 11 đối tượng và một số huyện khác. Thu giữ 22 bánh herroin, 22 kg ma túy đá, 20 kg ma túy dạng ketamin, 34,66 gam heroin, 26,35 gam ma túy tổng hợp 13.600 viên ma túy tổng hợp, giảm 13 vụ (-13,83%), giảm 21 đối tượng (-18,92%).

Về tệ nạn sử dụng ma túy: Trong tháng xảy ra 49 vụ với 65 đối tượng. Trong đó: Quỳ Hợp 6 vụ với 6 đối tượng, Thị xã Cửa Lò 17 vụ với 17 đối tượng, Con Cuông 5 vụ với 5 đối tượng, Thị xã Hoàng Mai 6 vụ với 6 đối tượng và một số huyện khác. So với cùng kỳ giảm 12 vụ (-19,67 %), giảm 6 đối tượng (-8,45%).

Về tai nạn giao thông: Trong tháng xảy ra 28 vụ làm chết 13 người, bị thương 25 người, ước giá trị thiệt hại 860 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước giảm 11 vụ (-28,21%), số người chết giảm 6 người, bị thương giảm 12 người (-32,43%).

Trong khoảng thời gian từ ngày 10/6/2019 đến 10/7/2019, đã xảy ra 18 vụ cháy, gây thiệt hại 16,23 tỷ đồng. Tính chung từ đầu năm, toàn tỉnh xảy ra 44 vụ cháy, trong đó: cháy rừng là 14 vụ, làm chết 3 người, 10 người bị thương, giá trị thiệt hại ước tính 45,8 tỷ đồng.

Từ ngày 10/6/2019 đến ngày 10/7/2019, trên địa bàn toàn tỉnh xảy ra 22 vụ vi phạm ảnh hưởng đến môi trường, xử phạt hành chính lên đến 98 triệu đồng. Tính chung từ đầu năm toàn tỉnh xảy ra 117 vụ, số tiền xử phạt là 234 triệu đồng.

                                    Nguồn: Ngụy Khắc Chiến, Cục Thống kê

 |  Đầu trang
 
<<   <  1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  ...  >  >>
 
 
 
Thông báo
Skip portletPortlet Menu
 
 
 
Thư viện ảnh
Skip portletPortlet Menu