Giới thiệu chung
Skip portletPortlet Menu
 
Tin tức - Sự kiện
Skip portletPortlet Menu
 
Lĩnh vực chuyên môn
Skip portletPortlet Menu
 
 
Liên kết website
Skip portletPortlet Menu
 
 
 
Tình hình sản xuất Công nghiệp tỉnh Nghệ An tháng 3 và quý I năm 2019 (02/04/2019 07:34 AM)

Những tháng đầu năm, trên địa bàn Nghệ An đã có nhiều nhà máy mới đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh như: Nhà máy Bánh kẹo Hải Châu 2 với 10 dây chuyền bánh kẹo, đồ uống đạt 75 nghìn tấn/năm, tổng doanh thu đạt khoảng 1,7 nghìn tỷ, giải quyết việc làm cho 520 lao động; Nhà máy nước tinh khiết, thảo dược và hoa quả núi tiên sản xuất các loại nước hoa quả, sữa trái cây, thức uống thảo dược với tổng công suất 76 nghìn chai/giờ, doanh thu dự kiến cả năm 340 tỷ, giải quyết việc làm cho khoảng 300 lao động… Bên cạnh đó, một số dự án lớn đang được triển khai, dự kiến đi vào hoạt động trong năm như: Dự án Nhà máy bia, giải khát Masan với vốn đầu tư 1.661 tỷ đồng; Khu liên hợp sản xuất vật liệu xây dựng Trung Đô với vốn 1.025 tỷ đồng; Nhà máy viên nén sinh khối Biomass Fuel Việt Nam với vốn 20 triệu USD; Nhà máy Em-Tech Vinh với số 11,8 triệu USD…

        Tính đến ngày 15/3/2019, trên địa bàn tỉnh Nghệ An có 340 doanh nghiệp được cấp mới giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, bằng 96,3 so với cùng kỳ; Tổng vốn các doanh nghiệp đăng ký đạt 3.392,2 tỷ đồng, tăng 58,7% so với cùng kỳ, bình quân khoảng 9,9 tỷ đồng/doanh nghiệp; đồng thời có 206 doang nghiệp đăng ký hoạt động trở lại sản xuất kinh doanh, tăng 52,5% so với cùng kỳ; Số Doanh nghiệp giải thể trong 3 tháng đầu năm là 21 doanh nghiệp, giảm 19,23% so với cùng kỳ.

- Chỉ số sản xuất Công nghiệp tỉnh Nghệ An tháng 3/2019 ước bằng 124,95% so với tháng 02/2019

Nguyên nhân tăng chủ yếu do tháng 02 trùng với Tết Nguyên đán và rằm tháng giêng nên các doanh nghiệp nghỉ lễ dài. Bên cạnh đó tháng 02 lại là tháng có số ngày ít nhất trong năm. Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp tháng 3/2019 tăng so với 02/2019 theo các ngành như sau:

+ Ngành công nghiệp khai khoáng bằng 119,65% so với tháng 02/2019. Trong đó: sản phẩm Đá xây dựng khác bằng 168,05% so với tháng trước; Đá chế biến bằng 137,13%; quặng thiếc bằng 115,38%.

+ Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước bằng 129,56% so với tháng trước. Nguyên nhân tăng do tháng 02/2019 trùng Tết Nguyên đán, thời gian sản xuất ngắn nên một số sản phẩm sản xuất ra trong tháng 3/2019 tăng cao, như: Bê tông tươi bằng 174,50% so với tháng trước; Đường kính bằng 171,54%; Ống nhựa bằng 163,83%; Áo sơ mi bằng 169,77%; Bia đóng chai bằng 164,49%; Sợi bằng 159,45%; Xi măng bằng 154,04%; Thùng carton bằng 151,61%... Bên cạnh đó, có một số sản phẩm giảm như: Đồ nội thất bằng vật liệu khác bằng 93,26% so với tháng trước; Hộp bia lon bằng 97,87%...

+ Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí bằng 107,55% so với tháng 02/2019. Trong đó: sản lượng điện sản xuất ước bằng 108,68% so với tháng trước; điện thương phẩm ước bằng 97,21%.

+ Ngành Cung cấp nước, quản lý và xử lý nước thải, rác thải ước bằng 90,16% so với tháng 02/2019.Trong đó: Nước máy ước bằng 87,57% so với tháng trước; Dịch vụ thu gom rác thải ước bằng 93,05%; Dịch vụ làm sạch bể phốt ước bằng 112,82%.

        - Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 3/2019 tăng 7,31% so với cùng kỳ

+ Ngành Công nghiệp khai khoáng giảm 3,06% so với cùng kỳ. Trong đó: Sản phẩm Đá xây dựng khác ước đạt 187,7 nghìn m3, giảm 15,70% so với cùng kỳ; Đá xây dựng qua chế biến ước đạt 53,6 nghìn m3, tăng 5,21%; Quặng thiếc ước đạt 18 tấn, tăng 15,38%.

+ Công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7,54% so với cùng kỳ. Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng do một số nhà máy lắp thêm dây chuyền sản xuất, bên cạnh đó một số sản phẩm cùng kỳ năm trước không tiêu thụ được nay đã tìm được thị trường tiêu thụ nên sản phẩm sản xuất ra tăng như: Phân NPK ước đạt 2,6 nghìn tấn, tăng 90,91% so với cùng kỳ; Xi măng ước đạt 521 nghìn tấn, tăng 48,60%; Bao bì bằng giấy ước 3,8 triệu cái, tăng 37,21%; Sản phẩm in ước đạt 579,9 triệu trang, tăng 22,77%; Bia đóng chai ước đạt 5,8 triệu lít, tăng 21,03%; Bia lon ước đạt 7,2 triệu lít, tăng 19,54%; Quần áo không dệt kim ước đạt 548,7 nghìn cái, tăng 13,98%... Bên cạnh đó, một số nhà máy khó tuyển dụng được lao động, sản phẩm sản xuất ra khó tiêu thụ nên sản lượng sản xuất ra giảm như: Sợi ước đạt 1.400 tấn, giảm 19,35% so với cùng kỳ; Khăn quàng ước đạt 650,6 nghìn cái, giảm 11,62%;Bột đá ước đạt 47,6 nghìn tấn, giảm 28,23%; Bê tông tươi ước đạt 17,8 nghìn M3, giảm 13,40%...

+ Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 8,62% so với cùng kỳ. Nguyên nhân tăng do cùng kỳ năm trước chưa có Nhà máy điện Chi Khê và Nhà máy điện Nhãn Hạc, Điện sản xuất trong tháng ước đạt 189,5 triệu KWh, tăng 9,53% so với cùng kỳ; Điện thương phẩm ước đạt 230 triệu KWh, tăng 0,58%

- Ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý nước thải, rác thải tăng 3,84% so với cùng kỳ. Trong đó: Sản phẩm Nước máy ước đạt 2 triệu m3 tăng 2,18%; Dịch vụ làm sạch bể phốt ước đạt 1,7 tỷ đồng, tăng 13,54%; Dịch vụ thu gom rác thải ước đạt 5,3 tỷ đồng, tăng 6,47%.

- Chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp quý I năm 2019

Tính chung, 3 tháng đầu năm chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 7,51% so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể chỉ số sản xuất các ngành như sau:

+ Công nghiệp khai khoáng giảm 3,63%. Nguyên nhân giảm do tài nguyên khoáng sản ngày càng cạn kiệt, khai thác khoáng sản ngày khó khăn, đơn giá đền bù đất đai hoa màu cao, nhiều doanh nghiệp vỡ nợ đã tạm ngừng hoạt động hoặc chuyển sang kinh doanh lĩnh vực khác. Sản phẩm Quặng thiếc khai thác ước đạt 54 tấn, giảm 7,16% so với cùng kỳ; đá xây dựng qua chế biến ước đạt 149,8 nghìn m3, giảm 14,33%; Đá xây dựng ước đạt 546,7 nghìn m3, giảm 16,73%.

+ Công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7,97% so với cùng kỳ. Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng do một số nhà máy đã đầu tư mở rộng sản xuất, cộng với việc các doanh nghiệp mới đã đi vào hoạt động từ đầu năm 2018 nay hoạt động ổn định hơn. Bao bì bằng giấy ước đạt 13 triệu chiếc, tăng 77,46% so với cùng kỳ; Bia đóng chai ước đạt 14,5 triệu lít, tăng 57,87%; Xi măng ước đạt 1.279,8 nghìn tấn, tăng 47,83%; Ống nhựa ước đạt 3,7 nghìn tấn, tăng 23,95%; Thức ăn gia súc ước đạt 32,4 nghìn tấn, tăng 20,69%; Sữa tươi ước đạt 54 nghìn tấn, tăng 12,29%; Sữa chua ước đạt 7,4 triệu lít, tăng 12,3991%; ….

Một số sản phẩm có mức tăng trưởng thấp và giảm do ảnh hưởng chính sách thương mại giữa Mỹ - Trung nên mức tiêu thụ giảm, lượng hàng tồn kho lớn các nhà máy hạn chế sản xuất để tiêu thụ sản phẩm như: Phân NPK ước đạt 8,9 nghìn tấn, giảm 32,69% so với cùng kỳ; Ống thép Hoa Sen ước đạt 7 nghìn tấn, giảm 22,25%; Sợi ước đạt 3,51 nghìn tấn, giảm 26,06%; Bê tông tươi ước đạt 45,1 nghìn m3, giảm 18,04%; Khăn quàng ước đạt 1,9 triệu cái, giảm 17,76%, Tôn lợp ước đạt 160,7 nghìn tấn, giảm 15,54%; Bột đá ước đạt 145,3 nghìn tấn, giảm 12,92%...

+ Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước, và điều hòa không khí tăng 7,70% so với cùng kỳ. Trong đó: Điện sản xuất ước đạt 556,6 triệu KWh tăng 7,60%; Sản lượng Điện thương phẩm ước đạt 716,6 triệu KWh, tăng 7,26%.

+ Ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý nước thải, rác thải tăng 7,80% so với cùng kỳ. Trong đó sản phẩm Nước uống được đạt 6,6 triệu m3, tăng 4,44%, Dịch vụ làm sạch bể phốt ước đạt 4,7 tỷ đồng, tăng 42,01%; Dịch vụ thu gom rác thải ước đạt 16,4 tỷ đồng, tăng 12,18%.


(Nguồn: Phòng Thống kê Công nghiệp - Xây dựng, Cục Thống kê Nghệ An)

 |  Đầu trang
 
<<   <  1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  ...  >  >>
 
 
 
Thông báo
Skip portletPortlet Menu
 
 
 
Thư viện ảnh
Skip portletPortlet Menu