Giới thiệu chung
Skip portletPortlet Menu
 
Tin tức - Sự kiện
Skip portletPortlet Menu
 
Lĩnh vực chuyên môn
Skip portletPortlet Menu
 
 
Liên kết website
Skip portletPortlet Menu
 
 
 
Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Nghệ An tháng 5 năm 2019 (29/05/2019 10:31 AM)

1. Sản xuất nông nghiệp

a, Trồng trọt:

Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm vụ Đông Xuân 2019 đạt 224.942 ha, tăng 0,83% (+1.861 ha) so với cùng kỳ năm trước, cụ thể một số cây trồng chính như sau:

Cây lương thực gieo trồng 128.518 ha, tăng 0,42% (+536 ha) so với cùng kỳ năm trước, trong đó:

Cây lúa đã gieo cấy đạt 92.505,7 ha, tăng 0,2% (+188 ha) so với vụ Đông Xuân năm trước. Cây lúa vụ Xuân tập trung ở những huyện có điều kiện thâm canh như Yên Thành 12.866 ha, Diễn Châu 9.190 ha, Thanh Chương 8.600 ha, Đô Lương 8.441 ha, Nghi Lộc 7.900 ha, Quỳnh Lưu 7.600 ha, Nam Đàn 6.853 ha. Trong thời kỳ sinh trưởng và phát triển thời tiết ấm và có những đợt mưa tạo điều kiện để cây lúa đẻ nhánh, làm đòng, ước tính năng suất vụ Đông Xuân năm nay đạt 67,4 tạ/ha, sản lượng ước đạt 623.488 tấn, tăng 0,1% (+598 tấn).

Tuy nhiên trong thời kỳ sinh trưởng và phát triển trên cây lúa đã xuất hiện một số sâu bệnh như đạo ôn lá xảy ra đã làm cho 244 ha lúa bị nhiễm, trong đó có 11 ha bị nhiễm nặng; chuột phá hoại 1.285 ha ở Thành phố Vinh, Hoàng Mai, Quỳnh Lưu, Hưng Nguyên, Yên Thành, trong đó có 176 ha bị thiệt hại nặng; bệnh khô vằn phát sinh gây hại trên 5.627 ha, trong đó có 312 ha bị nhiễm nặng với tỷ lệ phổ biến 5-10% dánh bị hại; bệnh bạc lá đốm sọc vi khuẩn phát sinh gây hại 378 ha ở các huyện Quỳnh Lưu, Hoàng Mai, Nghi Lộc, Thành phố Vinh với tỷ lệ nơi cao 5-10%; Hiện tượng đốm nâu khô cháy lá 54 ha ở Thành phố Vinh; ngoài ra sâu cuốn lá, sâu đục thân, rầy nâu, rầy lưng trắng,… cũng gây ảnh hưởng một số diện tích lúa.

 Cây ngô diện tích gieo trồng đạt 36.012 ha, tăng 0,97% (+348 ha) so với vụ Đông Xuân năm trước, trong đó diện tích ngô Đông 18.767 ha tăng 156 ha. Năng suất ngô Đông Xuân ước đạt 47,06 tạ/ha; sản lượng ước tính đạt 169.476 tấn, tăng 1,4% (+2.346 tấn) so với vụ Đông Xuân năm trước.

                Do sản lượng lúa và sản lượng ngô cùng tăng nên tổng sản lượng cây lương thực có hạt vụ Đông Xuân năm 2019 ước tính đạt 792.965 tấn, tăng 0,37 %  (+2.943 tấn) so với cùng kỳ năm trước.

Cây lấy củ có chất bột: diện tích gieo trồng đạt 18.502 ha, tăng 5,2% (+914 ha) so với cùng vụ năm trước. Trong đó cây khoai lang diện tích gieo trồng ước đạt 3.140 ha, giảm 11 ha; năng suất ước đạt 66,65 tạ/ha; sản lượng ước đạt 20.926 tấn, tăng 5,9% (+1.165 tấn). Cây sắn diện tích hiện có 14.361 ha, tăng 6,47% (+873 ha).

Cây mía diện tích 24.471 ha, giảm 0,53% (-131 ha) so với cùng kỳ năm trước do một số diện tích trồng mía chuyển sang trồng sắn. Hiện nay trên diện tích mía đã xuất hiện bệnh chồi cỏ: 966 ha, trong đó 104 ha nhiễm từ trung bình đến nặng. Ngoài ra bệnh thối đỏ, sâu đục thân, châu chấu… gây hại cục bộ một số vùng.

Cây lạc diện tích gieo trỉa đạt 12.845 ha, giảm 4,33% (-581 ha); năng suất ước đạt 25,36 tạ/ha; sản lượng 32.573 tấn, giảm 7,82% (-2.764 tấn); Cây vừng diện tích gieo trồng ước đạt 288 ha giảm 10 ha so với cùng kỳ năm trước, năng suất ước đạt 6,27 tạ/ha; sản lương ước đạt 181 tấn, giảm 2 tấn. Cây đậu tương diện tích gieo trồng đạt 181 ha, tăng 47,99% (+59 ha) so với cùng kỳ năm trước, năng suất ước đạt 10,19 tạ/ha; sản lượng ước đạt 185 tấn, tăng 46 tấn.

Cây rau đậu, hoa cây cảnh: diện tích gieo trồng đạt 26.103 ha, tăng 3,46% (+874 ha) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, diện tích rau các loại ước đạt 24.853 ha, tăng 3,34% (+804 ha); năng suất ước đạt 139,93 tạ/ha; sản lượng ước đạt 347.776 tấn, tăng 2,25% (+ 7.640 tấn); diện tích đậu 1.027 ha, giảm 1,94% (-20 ha), sản lượng ước đạt 1.120 tấn, giảm 4,02% (-47 tấn).

Cây hàng năm khác: diện tích gieo trồng đạt 13.868 ha, tăng 1,45% (+198 ha) so với cùng kỳ năm trước, trong đó chủ yếu là diện tích cây cỏ voi 9.171 ha để làm thức ăn cho bò sữa, ngô thức ăn chăn nuôi 1.975 ha.

                b, Chăn nuôi:

Tổng đàn trâu bò ước đạt 743.999 con, tăng 1,12% tương đương tăng 8.219 con so với cùng kỳ năm trước. Đàn trâu 272.970 con, giảm 0,8% (-2.200 con); đàn bò 471.029 con, tăng 2,26% (+10.419 con); trong đó bò sữa 59.057 con, giảm 6,45% (-4.073 con); Tổng đàn lợn ước đạt 921.510 con, tăng 2,47% (+22.238 con); Tổng đàn gia cầm (gà, vịt, ngan, ngỗng) ước đạt 23.781 nghìn con, tăng 7,09% (+1.575 nghìn con), trong đó đàn gà ước đạt 19.872 nghìn con, tăng 7,98% (+1.469 nghìn con).

So với cùng kỳ năm trước tổng đàn trâu giảm do chương trình cơ giới hóa sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp ngày càng mở rộng thay cho sức kéo của đàn trâu; tổng đàn bò tăng (thịt bò trở thành thực phẩm ưa chuộng trong đời sống của người dân, hiệu quả kinh tế cao); Tổng đàn lợn tăng do giá thịt lợn hơi tăng lên và đứng ở mức cao trong thời gian dài (những tháng gần đây có dịch tả lợn Châu Phi giá thịt lợn hơi có giảm chút ít), người chăn nuôi có lãi nên duy trì đàn; tổng đàn gia cầm tăng (do nhu cầu tiêu dùng thịt gia cầm ngày càng cao, điều kiện chăn nuôi phù hợp với điều kiện kinh tế hộ gia đình). Tuy nhiên, bò sữa trên địa bàn giảm do Công ty TH Nghĩa Đàn chuyển một số lượng bò sữa về trang trại chăn nuôi của TH Lâm Đồng.

Tình hình dịch bệnh: Ổ dịch tả lợn Châu Phi được phát hiện đầu tiên tại một hộ chăn nuôi ở xã Quỳnh Mỹ, Quỳnh Lưu và ngày 12/3, đến nay (12/5) đã có thêm 29 hộ của 10 huyện, 21 xã, trên 400 con lợn mắc bệnh dịch tả lợn Châu Phi phải tiêu hủy; toàn tỉnh hiện còn 15 xã, 6 huyện có ổ dịch chưa qua 30 ngày, dịch bệnh có xu hướng phát sinh ra nhiều xã, huyện trong tỉnh. Các ngành chức năng đang triển khai đồng bộ các giải pháp phòng chống, trong đó chủ động phát hiện sớm, báo cáo và công bố hết dịch theo đúng quy định, xử lý kịp thời khi có dịch, tránh tình trạng để lâu, vứt xác ra môi trường làm ô nhiễm, lây lan dịch bệnh, kịp thời hỗ trợ kinh phí cho người chăn nuôi có lợn buộc phải tiêu hủy.

2. Sản xuất lâm nghiệp

Tháng 5 năm 2019 thời tiết bắt đầu nắng nóng, các đơn vị và hộ dân tích cực trồng hết diện tích rừng còn lại để hoàn thành tiến độ trồng rừng đề ra.

 Diện tích rừng trồng mới tập trung tháng 5 ước đạt 674 ha, đưa diện tích rừng trồng mới 5 tháng đầu năm ước đạt 7.012 ha, tăng 0,39 % (+27 ha) so với cùng kỳ năm 2018; trồng cây phân tán tháng 5 ước đạt 1.412 nghìn cây, cộng dồn 5 tháng ước đạt 4.547 nghìn cây, tăng 9 nghìn cây; bảo vệ 956.705 ha rừng hiện có. Ngoài ra trong tháng 5 đã khai thác được 121.478 m3 gỗ các loại, tăng 14,45% (+15.341 m3), cộng dồn 5 tháng khai thác được 400.352 m3, tăng 8,53% (+31.460 m3), sản lượng gỗ khai thác tăng từ rừng trồng của các dự án, hộ dân sinh đã đến kỳ thu hoạch và làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến như ván ép, dăm gỗ, nguyên liệu giấy và nhu cầu xây dựng; củi khai thác tháng 5 ước đạt 92.664 ste, cộng dồn 5 tháng 508.366 ste, tăng 0,24%;…

Công tác bảo vệ rừng thường xuyên được quan tâm, nhất là công tác phòng cháy chữa cháy nên trong 5 tháng đầu năm không xảy ra vụ cháy nào. Tuy nhiên trong tháng 5 đã phát hiện và xử lý 44 vụ vi phạm lâm luật, trong đó: vi phạm về phá rừng trái phép 9 vụ; mua bán tàng trữ, vận chuyển lâm sản trái phép 14 vụ; lâm sản tịch thu 61 m3 gỗ các loại, động vặt rừng 50 con và 26 kg, thu nộp ngân sách 867,7 triệu đồng. Tính chung 5 tháng đã phát hiện và xử lý 224 vụ vi phạm lâm luật, tịch thu 332 m3 gỗ các loại, thu nộp ngân sách 1.693 triệu đồng.

 3. Sản xuất thủy sản

Diện tích nuôi trồng 5 tháng ước đạt 18.618 ha, tăng 0,39% (+73 ha) so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích nuôi cá ước đạt 17.176 ha, diện tích nuôi tôm 1.247 ha, diện tích thủy sản khác 195 ha. Sản lượng nuôi trồng tháng 5 ước đạt 4.792 tấn, tăng 6,21% (+280 tấn) so với tháng 5 năm 2018, đưa sản lượng nuôi trồng 5 tháng đầu năm 2019 ước tính đạt 21.162 tấn, tăng 5,1 % (+1.027 tấn) so với cùng kỳ năm 2018. Sản lượng khai thác tháng 5 ước đạt 15.596 tấn, tăng 9,53% (+1.357 tấn) đưa sản lượng khai thác thủy sản 5 tháng đầu năm 2019 ước tính đạt 64.139 tấn, tăng 10,94% (+6.324 tấn) so với cùng kỳ năm 2018.

Tính chung cả nuôi trồng và khai thác tháng 5 sản lượng thủy sản ước đạt 20.388 tấn, tăng 8,73% (+1.637 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Cộng dồn 5 tháng sản lượng thủy sản ước đạt 85.301 tấn, tăng 9,43% (+7.351 tấn). Trong đó: Sản lượng cá 70.181 tấn, tăng 9,25% (+5.945 tấn); tôm 1.759 tấn, tăng 1,79% (+31 tấn); thủy sản khác 13.361 tấn, tăng 11,47% (+1.375 tấn).

Ngoài ra ngành thủy sản đã tổ chức tốt công tác kiểm dịch giống, chuẩn bị nguồn giống sạch để đáp ứng nhu cầu nuôi thả của nhân dân. Trong tháng 5 đã sản xuất và cung cấp được 436 triệu con giống, đưa sản lượng giống 5 tháng ước đạt 1.552 triệu con, trong đó cá 291 triệu con, tôm 1.175 triệu con, thủy sản khác 86 triệu con.

4. Sản xuất công nghiệp

Ngành công nghiệp Nghệ An những tháng đầu năm phát triển chậm hơn kịch bản tăng trưởng đề ra, nguyên nhân nhiều ngành chủ lực đã khai thác tối đa công suất, không có sản phẩm mới đủ lớn để bứt tốc. Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 5/2019 tăng 10,25% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó công nghiệp khai khoáng giảm 0,94%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,26% (trong đó có một số ngành tăng khá như sản xuất và chế biến thực phẩm tăng 20,31%, sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 49,82%, sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 24,92%, sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại tăng 23,8%, sản xuất sản phẩm điện tử tăng 47,99%); sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 12,93%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,83%.

                Nhiều sản phẩm chủ yếu trong tháng có mức tăng khá so với cùng kỳ năm trước như sữa tươi 18,57 triệu lít, tăng 27,7%; thức ăn gia súc 11.669 tấn, tăng 58,03%; bia chai 6.579 nghìn lít, tăng 24,44%; quần áo không dệt kim 430,6 nghìn cái, tăng 18,38%; bao bì 4.496 nghìn chiếc, tăng 62,79%; phân NPK 6.829 tấn, tăng 52,78%; ống nhựa Tiền Phong 1.942 tấn, tăng 26,51%; xi măng 650 nghìn tấn, tăng 40,73%; loa 11 triệu chiếc, tăng 47,99%; điện sản xuất 230 triệu kwh, tăng 14,1%;... Tuy nhiên trong tháng có một số sản phẩm chủ yếu giảm sút như đá xây dựng giảm 12,81%; bia đóng lon giảm 14,78%; áo sơ mi giảm 6,71%; thùng carton giảm 6,93%; tôn hoa sen giảm 18,79%;…

Tính chung 5 tháng đầu năm 2019 chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 8,64% so với cùng kỳ năm trước, trong đó công nghiệp khai khoáng giảm 2,18%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,05% (sản xuất chế biến thực phẩm tăng 16,02%, chế biến gỗ tăng 13,02%, sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 44,48%, in ấn tăng 14,95%, sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 16,71%, sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại tăng 29,39%, sản xuất sản phẩm điện tử tăng 15,93%); công nghiệp sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 9,05%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 9,21%. Nguyên nhân chỉ số ngành khai khoáng giảm do tài nguyên, khoáng sản ngày càng cạn kiệt, thuê đất mỏ, thuế tài nguyên tăng, khai thác gặp nhiều khó khăn; nguyên nhân công nghiệp chế biến, chế tạo tăng thấp do một số ngành bị ảnh hưởng của cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung nên chỉ số sản xuất giảm như dêt, may mặc, hóa chất, sản xuất kim loại.

Năm tháng đầu năm một số sản phẩm chủ yếu có mức tăng khá so với cùng kỳ năm trước như sữa tươi 95,74 triệu lít, tăng 17,72%; sữa chua 14,79 nghìn tấn, tăng 15,25%; thức ăn gia súc 55,53 nghìn tấn, tăng 33,64%; bia chai 25,61 triệu lít, tăng 40,18%; quần áo không dệt kim 2.471 nghìn cái, tăng 15,96%; vỏ bào, dăm gỗ 209,83 nghìn tấn, tăng 23,88%; bao bì 22,14 triệu chiếc, tăng 70,95%; sản phẩm in 2.760 triệu trang, tăng 14,95%; ống nhựa Tiền Phong 7000 tấn, tăng 15,21%; xi măng 2.537 nghìn tấn, tăng 45,65%; Loa 49,8 triệu cái, tăng 15,93%;… Tuy nhiên trong kỳ có nhiều sản phẩm chủ yếu giảm sút như đá xây dựng giảm 12,76%; sợi giảm 17,12%; áo sơ mi giảm 4,83%; thùng carton giảm 10,09%; phân NPK giảm 16,94%; ống thép Hoa sen giảm 31,05%; Tôn Hoa sen giảm 26,02%;…

5. Đầu tư và xây dựng

Những tháng đầu năm 2019 lĩnh vực đầu tư xây dựng phát triển khá, tuy nhiên trong khu vực nhà nước vốn đầu tư phát triển thấp so với kế hoạch và cùng kỳ năm trước. Tháng 5/2019 vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 473,7 tỷ đồng, tăng 0,36% so với cùng kỳ năm trước, trong đó thực hiện vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 209 tỷ đồng, tăng 1,98%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện ước đạt 162,4 tỷ đồng, giảm 2,47%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 102,4 tỷ đồng, tăng 1,73%. Tính chung 5 tháng đầu năm vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 2.150,1 tỷ đồng, giảm 2,25% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 921,8 tỷ đồng, giảm 1,77%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện 767,9 tỷ đồng, giảm 4,58%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã 460,4 tỷ đồng, tăng 0,88%.

                Một số công trình có vốn đầu tư lớn thực hiện trong kỳ như Tiểu dự án phát triển Thành phố Vinh; đường N5 KTT Đông Nam; đường nối QL1A đi Thị xã Thái Hòa; đường Mường Xén – Khe Kiền; đại lộ Vinh – Cửa Lò; Khôi phục vùng ngập lũ Nghệ An; Đường giao thông Châu Quang, Châu Cường, Quỳ Hợp; Nhà giảng đường Trường Đại học Y khoa Vinh; Đường giao thông 533 nối đường Hồ Chí Minh; Đường giao thông 534 đi Đại Sơn, Đô Lương; Xây dựng kè chống sạt lở bờ sông Lam; Kè chống sạt lở sông Nam Cấm; Hạ tầng cụm công nghiệp Bồng Khê, Con Cuông; Khu Tái định cư Nghi Yên, Nghi Lộc; Công viên Thanh thiếu niên thuộc Quần thể lưu niệm Cố Tổng bí thư Lê Hồng Phong; Đường từ Trung tâm huyện Thanh Chương đi Khu tái định cư Thủy điện Bản Vẽ; Sửa chữa nâng cao an toàn đập WB8; Sửa chữa, nâng cấp hệ thống tưới Diễn Thọ, Diễn Lợi; Sửa chữa, nâng cấp hồ chứa nước Cửa Ông, Nam Đàn; Cầu tràn Đồng Hợp, Quỳ Hợp; Bảo tồn, tôn tạo Đền Quả Sơn; Trường THCS phường Quán Bàu; Bệnh viện điều dưỡng và PHCN Cửa Lò;…

                6. Thu chi ngân sách

Tổng thu ngân sách trên địa bàn tỉnh 5 tháng đầu năm 2019 ước đạt 5.950,5 tỷ đồng, bằng 44,08% dự toán cả năm và tăng 18,33% so với cùng kỳ năm trước, trong đó thu nội địa ước đạt 5.240,5 tỷ đồng, bằng 44,42% dự toán và tăng 20,5% (nếu không kể thu tiền sử dụng đất thì thu nội địa ước đạt 4.121,6 tỷ đồng, tăng 21,82%); thu từ hoạt động xuất nhập khẩu 710 tỷ đồng, bằng 41,76% dự toán và tăng 4,45%. Thu ngân sách 5 tháng năm nay tăng cao hơn 5 tháng của năm 2018 (5 tháng năm 2018 tăng 6,01%). Một số khoản thu so với cùng kỳ tăng khá như: Thu từ khu vực CTN-DV ngoài quốc doanh ước đạt 1.878 tỷ đồng, bằng 41,83% dự toán và tăng 18,96%; Thu lệ phí trước bạ ước đạt 374,7 tỷ đồng, bằng 50,63% dự toán và tăng 34,71%; Thu thuế bảo vệ môi trường ước đạt 641 tỷ đồng, bằng 39,81% dự toán và tăng 69,0%; Thu phí và lệ phí ước đạt 121,9 tỷ đồng, bằng 47,78% dự toán và tăng 13,88%; Thu tiền sử dụng đất ước đạt 1.118,9 tỷ đồng, bằng 47,41% dự toán và tăng 15,9%; Thu cấp quyền khai thác khoáng sản ước đạt 141,7 tỷ đồng, bằng 88,56% dự toán và tăng 65,54%. Tuy nhiên có nhiều khoản thuế đạt thấp như Thu từ doanh nghiệp địa phương quản lý giảm 1,4%; Thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giảm 14,14%.

Tổng chi ngân sách 5 tháng ước đạt 10.121,3 tỷ đồng, bằng 41,58% dự toán. Trong đó chi đầu tư phát triển 2.685,8 tỷ đồng, bằng 51,72% dự toán; chi thường xuyên 7.340,5 tỷ đồng, bằng 39,17% dự toán. Các khoản chi quan trọng trong chi thường xuyên đều bảo đảm như: Chi sự nghiệp kinh tế 710,7 tỷ đồng, bằng 37,93% dự toán; chi sự nghiệp giáo dục đào tạo 3.285,2 tỷ đồng, bằng 40,83% dự toán; chi sự nghiệp y tế 795,3 tỷ đồng, bằng 37,7%; chi đảm bảo xã hội 503,7 tỷ đồng, bằng 43,47% dự toán và chi quản lý hành chính 1.395 tỷ đồng, bằng 40,93% dự toán. Các khoản chi đầu năm chủ yếu tập trung chi lương và các khoản có tính chất lương, chi thăm hỏi chúc Tết các đối tượng chính sách, chi mừng thọ, chi hỗ trợ hộ nghèo,…

7. Thương mại, giá cả

Tổng mức bán lẻ hàng hóa tháng 5/2019 theo giá hiện hành ước đạt 5.175,3 tỷ đồng, tăng 15,31% so với cùng tháng năm trước đưa tổng mức bán lẻ hàng hóa 5 tháng đầu năm 2019 ước đạt 25.474 tỷ đồng, tăng 13,76% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó thành phần kinh tế nhà nước 928,6 tỷ đồng, tăng 1,67%; thành phần kinh tế tư nhân 10.594,3 tỷ đồng, tăng 19,74%; thành phần kinh tế cá thể 13.760,7 tỷ đồng, tăng 10,69%, thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 175,2 tỷ đồng. Chia theo nhóm hàng bán lẻ thì nhóm lương thực, thực phẩm chiếm tỷ trọng lớn nhất với doanh thu 5 tháng ước đạt 8.207,2 tỷ đồng (chiếm 32,22% tổng số), tăng 15,72% so với cùng kỳ năm trước; nhóm đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình 3.246 tỷ đồng, tăng 10,69%; hàng may mặc 1.588,4 tỷ đồng, tăng 8,48%; ô tô các loại 3.884,9 tỷ đồng, tăng 11,95%; phương tiện đi lại (trừ ô tô) 1.869,5 tỷ đồng, tăng 12,15%; xăng dầu 2.391,3 tỷ đồng, tăng 26,51%....

Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tháng 5/2019 ước đạt 794,4 tỷ đồng, tăng 15,89% so với cùng kỳ năm trước. Cộng dồn 5 tháng doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước đạt 3.453,6 tỷ đồng, tăng 14,42% so với cùng kỳ năm trước; trong đó dịch vụ lưu trú phục vụ 2.427,5 nghìn lượt khách, tăng 11,73% so với cùng kỳ năm trước (1.765,6 nghìn lượt khách ngủ qua đêm, trong đó 51,2 nghìn lượt khách quốc tế) với doanh thu dịch vụ lưu trú 506,4 tỷ đồng, tăng 12,55%; doanh thu dịch vụ ăn uống 2.883,5 tỷ đồng, tăng 14,85%; doanh thu dịch vụ du lịch lữ hành 63,8 tỷ đồng, tăng 10,12%.

Doanh thu hoạt động dịch vụ khác (trừ dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành) tháng 5/2019 ước đạt 538,8 tỷ đồng, tăng 10,59% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 5 tháng/2019 ước đạt 2.609,7 tỷ đồng, tăng 10,33%; trong đó kinh doanh bất động sản 964,4 tỷ đồng, tăng 4,07%; dịch vụ hành chính 513,2 tỷ đồng, tăng 8,92%; dịch vụ y tế 426 tỷ đồng, tăng 19,25% do điều chỉnh giá dịch vụ Y tế theo thông tư 39/2018/TT-BYT; dịch vụ nghệ thuật, vui chơi giải trí 198,3 tỷ đồng, tăng 18,47%, dịch vụ sửa chữa máy tính, đồ dùng cá nhân và gia đình 166,3 tỷ đồng, tăng 14,58%…

Giá cả thị trường: Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 5 năm 2019 tăng 0,5% so với tháng trước, tăng 1,16% so với tháng 12/2018 và tăng 2,20% so với cùng kỳ năm trước. 8/11 nhóm hàng hóa, dịch vụ có chỉ số giá tăng và tăng nhiều nhất là nhóm nhóm giao thông tăng 2,01% do trong kỳ có 2 lần điều chỉnh giá xăng dầu, theo đó giá xăng E5 tăng 8,16%, xăng RON 95 tăng 6,83%, dầu diesel tăng 2,96%; nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,82% do giá điện sinh hoạt tăng 5,08% theo Quyết định số 648/QĐ-BCT của Bộ Công Thương; nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,57% do thời tiết nắng nóng các loại nước giải khát và bia tăng mạnh; nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,34% (lương thực giảm 0,72%, thực phẩm tăng 0,63%). Có 3 nhóm đứng giá là Thuốc và dịch vụ y tế; nhóm bưu chính viễn thông và nhóm giáo dục.

Như vậy bình quân 5 tháng năm 2019 chỉ số giá tiêu dùng CPI tăng 2,10% so với cùng kỳ, tăng cao nhất là nhóm giáo dục với mức tăng 5,15%; nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,44% (trong đó lương thực tăng 0,06%, thực phẩm tăng 4,84%); nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 3,05%; nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 2,45%.

Không nằm trong rổ hàng hóa để tính CPI, giá vàng so với tháng trước giảm 0,63%, so với tháng 12/2018 tăng 0,94%, so với cùng kỳ năm trước giảm 1,57%; chỉ số đô la Mỹ tăng 0,28% so với tháng trước, giảm 0,36% so với tháng 12/2018 và tăng 2,20% so với cùng kỳ năm trước.

8. Vận tải

Vận chuyển hành khách tháng 5/2019 ước đạt 9.445 nghìn lượt khách và 769,2 triệu lượt khách.km. So với cùng kỳ năm trước hành khách vận chuyển tăng 16,65% và hành khách luân chuyển tăng 16,81%. Tính chung 5 tháng khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 43,59 triệu lượt khách, tăng 15,23% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng hành khách luân chuyển 3.547,4 triệu lượt khách.km, tăng 15,48%.

Khối lượng vận chuyển và luân chuyển tháng này tăng do nhu cầu đi lại của nhân dân tăng cao nhất là các đối tượng học sinh, sinh viên được nghỉ lễ vào ngày 01/5 về thăm nhà trở lại trường cùng với việc khai trương mùa du lịch Cửa Lò nên có nhiều khách du lịch tham quan tắm biển, tổ chức Lễ hội Làng Sen và đón nhiều đoàn khách nhân dịp 50 năm thực hiện di chúc của Người và kỷ niệm 129 năm ngày sinh nhật Bác.

Vận tải hàng hóa tháng 5/2019 ước đạt 7.590 nghìn tấn và 304,1 triệu tấn.km. So với tháng 5/2018 khối lượng vận chuyển hàng hóa tăng 14,29%, khối lượng luân chuyển hàng hóa tăng 11,45%. Tính chung 5 tháng đầu năm khối lượng vận chuyển hàng hóa ước đạt 36,17 triệu tấn, tăng 13,07% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển hàng hóa 1.485,3 triệu tấn.km, tăng 10,54%.

Doanh thu vận tải, bốc xếp tháng 5 ước đạt 942,8 tỷ đồng đưa doanh thu 5 tháng ước đạt 4.406,2 tỷ đồng, tăng 15,37% so với cùng kỳ năm trước, trong đó doanh thu vận tải hàng hóa 2.776,4 tỷ đồng, tăng 14,01%; doanh thu vận tải hành khách 1.086,5 tỷ đồng, tăng 20,13% và doanh thu bốc xếp, dịch vụ vận tải 543,4 tỷ đồng, tăng 13,29%.

9. Một số vấn đề xã hội

a. Dịch bệnh

Trong kỳ từ ngày 10/4/2019 đến 10/5/2019 trên địa bàn toàn tỉnh đã xẩy ra 664 ca tiêu chảy ở các huyện: Thành phố Vinh 50 ca, Quế Phong 103 ca, Kỳ Sơn 45 ca, Tương Dương 106 ca, Hưng Nguyên 59 ca, Hoàng Mai 42 ca,...; Sốt rét xảy ra 8 ca ở Kỳ Sơn, Quỳ Hợp; Sốt xuất huyết xảy ra 1 vụ ở Kỳ Sơn; Ngộ độc xảy ra 2 vụ 14 người ở Quỳnh Lưu. Cộng dồn 5 tháng đầu năm đã xảy ra 3.573 ca tiêu chảy, 28 ca sốt rét, 2 ca sốt xuất huyết, 4 vụ ngộ độc. So với cùng kỳ năm trước số ca tiêu chảy giảm 8,6% (-336 ca), sốt rét giảm 31,71% (-13 ca). Nguyên nhân chính gây ra các vụ tiêu chảy và ngộ độc là do uống bia rượu nhiều, ăn các thức ăn chế biến có ướp hoá chất, rau hoa quả phun thuốc sâu và thuốc kích thích. Nguyên nhân xảy ra sốt rét do ý thức của người dân trong việc phòng chống muỗi Anophen, để cho muỗi truyền ký sinh trùng từ người này qua người khác.

                Tình hình nhiễm HIV/AIDS: Đến ngày 31/3/2019 số người bị nhiễm HIV được phát hiện trên toàn tỉnh là 12.042 người, trong đó có 9.803 người trong tỉnh. Căn bệnh HIV đã xảy ra ở 449/480 xã/phường/thị trấn của 21 huyện/thành phố/thị xã. Trong tổng số người nhiễm HIV đã có 7.042 người chuyển sang bệnh AIDS và đã tử vong 4.258 người.

                b. Trật tự an toàn xã hội

Tính từ 10/4/2019 đến 10/5/2019 trên địa bàn tỉnh xảy ra 209 vụ, bắt giữ 228 đối tượng phạm pháp kinh tế chủ yếu là buôn bán hàng cấm, hàng nhập lậu thu giữ 10 nghìn lọ mỹ phẩm, 1.012 con gia súc, 13,4 nghìn con gia cầm, 100 kg nội tạng, 300 kg sụn, nậm lợn, chân gà và nhiều hàng hóa khác. Tính chung 5 tháng đầu năm xảy ra 752 vụ, bắt giữ 836 đối tượng. So với cùng kỳ năm trước số vụ tăng 10,59% (+72 vụ), số đối tượng tăng 0,24% (+2 đối tượng).

Phạm pháp hình sự xảy ra 107 vụ với 182 đối tượng chủ yếu là trộm cắp, cướp giật tài sản công dân làm mất 5 xe máy, 15 điện thoại di động, 6 chỉ vàng và nhiều tài sản khác. Cộng dồn 5 tháng đầu năm xảy ra 576 vụ với 952 đối tượng. So với cùng kỳ năm trước số vụ tăng 1,59% (+9 vụ) nhưng số đối tượng tăng 2,48% (+23 đối tượng).

Trong tháng đã bắt giữ 96 vụ 113 đối tượng buôn bán, tàng trữ, vận chuyển ma tuý, thu giữ 3 bánh, 68,82 gam hêroin, 700 kg ma túy đá, 7.000 viên ma túy tổng hợp. Tính chung 5 tháng đầu năm bắt giữ 416 vụ 468 đối tượng. So cùng kỳ năm trước số vụ tăng 13,66% (+50 vụ), số đối tượng tăng 8,58% (+37 đối tượng).

Trong tháng phát hiện 32 vụ 53 đối tượng sử dụng ma túy. Trong đó: Cửa Lò 10 vụ 10 đối tượng, Quỳ Hợp 4 vụ 10 đối tượng, Hoàng Mai 5 vụ 5 đối tượng,...; 3 vụ 9 đối tượng hoạt động mại dâm ở Quỳnh Lưu, Diễn Châu. Cộng dồn 5 tháng đầu năm phát hiện 197 vụ 236 đối tượng sử dụng ma túy, 15 vụ 35 đối tượng hoạt động mại dâm. So với cùng kỳ năm trước số vụ sử dụng ma túy tăng 13,22% (+23 vụ), số đối tượng tăng 15,12% (+31 đối tượng); hoạt động mại dâm giảm 4 vụ, giảm 11 đối tượng.

Trong kỳ xẩy ra 36 vụ tai nạn giao thông, làm chết 29 người, bị thương 19 người, ước giá trị thiệt hại 1.029 triệu đồng. Tính chung 5 tháng đầu năm xảy ra 181 vụ tai nạn giao thông, làm chết 91 người, bị thương 142 người. So với cùng kỳ năm trước số vụ giảm 2,69% (-5 vụ), số người chết giảm 9,9% (-10 người), số người bị thương giảm 21,11% (-38 người).

Trong tháng phát hiện 66 vụ đánh bạc thu giữ 225 triệu đồng và nhiều tài sản khác. Tính chung 5 tháng phát hiện 187 vụ đánh bạc thu giữ 998,7 triệu đồng và nhiều tài sản khác.

Ngoài ra trong tháng xảy ra 6 vụ cháy làm 1 người chết và 1 người bị thương, thiệt hại 6,1 tỷ đồng; phát hiện 1 vụ vi phạm môi trường, các ngành chức năng xử phạt 8 triệu đồng. Cộng dồn 5 tháng đầu năm xảy ra 17 vụ cháy làm 2 người chết và 10 người bị thương, thiệt hại 24,16 tỷ đồng; phát hiện 81 vụ vi phạm môi trường, xử phạt hành chính 96 triệu đồng./.

                                                    Nguồn: Thái Bá Minh, Cục Thống kê tỉnh Nghệ An

 |  Đầu trang
 
<<   <  1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  ...  >  >>
 
 
 
Thông báo
Skip portletPortlet Menu
 
 
 
Thư viện ảnh
Skip portletPortlet Menu