Giới thiệu chung
Skip portletPortlet Menu
 
Tin tức - Sự kiện
Skip portletPortlet Menu
 
Lĩnh vực chuyên môn
Skip portletPortlet Menu
 
 
Liên kết website
Skip portletPortlet Menu
 
 
 
TÌNH HÌNH KINH TẾ – XÃ HỘI QUÝ II VÀ 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2020 TỈNH NGHỆ AN (30/06/2020 08:58 AM)

Kinh tế xã hội tỉnh Nghệ An 6 tháng đầu năm 2020 diễn ra trong bối cảnh nền kinh tế thế giới rơi vào suy thoái do tác động trực tiếp của đại dịch viêm đường hô hấp Covid-19. Đồng thời, tình hình kinh tế trong nước cũng chịu tác động không nhỏ, có xu hướng tăng trưởng chậm lại với các yếu tố rủi ro và thách thức gia tăng. Trước tình hình đó, Lãnh đạo tỉnh nhà đã khẩn trương, sáng suốt, quyết liệt chỉ đạo các sở, ngành, địa phương thực hiện đồng bộ, hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp vừa phòng chống dịch Covid-19 vừa phát triển kinh tế. Kết quả đạt được của các ngành, lĩnh vực trong quý II và 6 tháng đầu năm nay như sau:

TÌNH HÌNH KINH TẾ

1. Tăng trưởng kinh tế

Tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP) 6 tháng/2020 theo giá so sánh 2010 ước đạt 40.470,7 tỷ đồng, tăng 2,69% so với 6 tháng/2019, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản ước đạt 10.218,1 tỷ đồng, tăng 4,98%; khu vực công nghiệp, xây dựng 11.380,9 tỷ đồng, tăng 5,11%; khu vực dịch vụ 16.704,6 tỷ đồng, tăng 0,2% và thuế sản phẩm 2.167,1 tỷ đồng giảm 0,59%. Tốc độ tăng trưởng kinh tế 6 tháng năm nay thấp hơn tốc độ tăng của 6 tháng những năm gần đây. Cả 3 khu vực có mức tăng trưởng thấp hơn mưc tăng trưởng của cùng kỳ năm 2019, thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm có mức tăng trưởng âm. Tuy nhiên khu vực Nông, lâm nghiệp, thủy sản vẫn duy trì mức tăng trưởng khá.

Trong 2,69% mức tăng trưởng chung, khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản đã đóng góp 1,23 điểm %; khu vực công nghiệp, xây dựng đóng góp 1,41 điểm %; khu vực dịch vụ đóng góp 0,08 điểm %; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm giảm 0,03 điểm %.

Tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP)

(Theo giá so sánh 2010)

 

6 tháng/2020       (Tỷ đồng)

So sánh với cùng kỳ năm trước (%)

Mức đóng góp vào tăng trưởng chung (%)

Tổng số

40.470,7

102,69

2,69

- Nông, lâm nghiệp, thủy sản

10.218,1

104,98

1,23

- Công nghiệp, xây dựng

11.380,9

105,11

1,41

          Trong đó: Công nghiệp

6.079,2

101,58

0,24

- Dịch vụ

16.704,6

100,20

0,08

- Thuế sản phẩm – trợ cấp sp

2.167,1

99,41

-0,03

                Khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản tăng khá trong bối cảnh dịch tả Lợn Châu Phi đang diễn biến phức tạp với mức tăng 4,98%, trong đó ngành nông nghiệp chiếm tỷ trọng gần 78,55% của toàn khu vực tăng 4,14% (một số sản phẩm trồng trọt tăng trong kỳ như: Rau tăng 4,01%, Đậu tăng 9,70%, …) Bên cạnh đó ngành chăn nuôi do ảnh hưởng của Dịch tả Lợn, giá thịt lợn hơi tăng cao, sản lượng thịt hơi xuất chuồng có tăng chậm lại làm ảnh hưởng đến tốc độ tăng của ngành nông nghiệp. Còn lại 2 ngành lâm nghiệp và thủy sản tuy tỷ trọng ít hơn nhưng có mức tăng khá, trong đó ngành lâm nghiệp tăng 4,46% (chiếm 8,06% trong tổng số) do trong kỳ sản lượng lâm sản khai thác tăng so với cùng kỳ năm trước (sản lượng gỗ tăng 8,04%) và ngành thủy sản tăng 9,99% (chiếm 13,39% trong tổng số) do sản lượng nuôi trồng và đánh bắt tăng mạnh so với cùng kỳ năm 2019, sản lượng thủy sản tăng 9,49%. So với kế hoạch và kịch bản 6 tháng (tăng 4,89%) đề ra thì ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản đã vượt, để cả năm hoàn thành kế hoạch tăng trưởng thì ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản 6 tháng cuối năm cần phải tăng 4,78%, đây là một nhiệm vụ có thể hoàn thành nếu như không có những ảnh hưởng xấu do thiên tai và dịch bệnh gây ra.

Khu vực công nghiệp, xây dựng giá trị tăng thêm tăng 5,11% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành công nghiệp tăng 1,58% thấp hơn mức tăng của những năm gần đây do trong kỳ bị ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, Nghị định 100/CP, chiến tranh thương mại Mỹ-Trung, bên cạnh đó ngành công nghiệp không có sản phẩm mới và một số sản phẩm chủ lực giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước như bia chai giảm 44,71%; bia lon giảm 25,06%; vỏ bào, dăm gỗ giảm 39,39%, điện sản xuất giảm 29,31% ... Ngành xây dựng 6 tháng đầu năm phát triển khá tăng do doanh nghiệp ngoài nhà nước và xây dựng trong dân cư nên giá trị tăng thêm tăng 9,47%.

Khu vực dịch vụ 6 tháng năm 2020 tăng 0,20% so với cùng kỳ năm trước, đây là năm có mức tăng trưởng thấp nhất trong những năm gần đây. Các ngành chủ yếu sử dụng ngân sách nhà nước (Đảng, đoàn thể, QLNN, QPAN, Giáo dục, Y tế, KHCN, …) phụ thuộc vào mức tăng của chi thường xuyên nên có mức tăng vừa phải như Hoạt động Đảng, Tổ chức chính trị xã hội, Quản lý nhà nước, QPAN, đảm bảo XHBB 6 tháng đầu năm 2020 chỉ tăng 4,13%; Giáo dục và đào tạo tăng 5,50%; Y tế tăng 8,19%; Chuyên môn, KHCN tăng 6,37%. Các ngành sản xuất kinh doanh có mức tăng trưởng âm (-) như ngành Bán buôn và bán lẻ; sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy giảm 3,37%; ngành Vận tải kho bãi giảm 0,87%; ngành Dịch vụ lưu trú và ăn uống giảm 33,92%; Hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ giảm 23,85%; ngành Nghệ thuật, vui chơi và giải trí giảm 10,77%; ngành Hoạt động dịch vụ khác giảm 16,82%.  

Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm giảm 0,59% do thu ngân sách 6 tháng năm 2020 giảm, nhất là các khoản thu của doanh nghiệp, cá thể thuộc dòng thuế sản phẩm như thuế VAT, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế XNK.

Cơ cấu kinh tế 6 tháng đầu năm 2020 do tác động tiêu cực của dịch Covid-19 nên chuyển dịch không đúng hướng cụ thể như ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản tăng từ 25,58% (6 tháng năm 2019) lên 27,94% (6 tháng năm 2020); ngành công nghiệp, xây dựng giảm từ 25,97% xuống 25,50%; ngành dịch vụ giảm từ 42,98% xuống 41,24%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm giảm từ 5,47% xuống 5,32%.

2. Tài chính, ngân hàng, bảo hiểm

Tổng thu ngân sách trên địa bàn tỉnh 6 tháng đầu năm 2020 ước đạt 7.084,5 tỷ đồng, bằng 46,56% dự toán cả năm và giảm 3,95% so với cùng kỳ năm trước, trong đó thu nội địa ước đạt 6.574,5 tỷ đồng, bằng 19% dự toán và tăng 0,52%. Thu ngân sách 6 tháng năm nay giảm so cùng kỳ năm trước do nhiều khoản thu so với dự toán đạt thấp và giảm so với cùng kỳ như: Thu từ doanh nghiệp trung ương 267,9 tỷ đồng, bằng 35,72% dự toán giao từ đầu năm và giảm 23,40% so cùng kỳ năm 2019; Thu từ doanh nghiệp Địa phương 58,4 tỷ đồng, bằng 50,79% dự toán và giảm 6,73%; Thu từ DN có vốn đầu tư nước ngoài 103,7 tỷ đồng, bằng 43,21% dự toán và giảm 11,34%; Thu từ khu vực CTN-DV ngoài quốc doanh 1.831,8 tỷ đồng, bằng 36,13% dự toán và giảm 19,55%; Thu thuế trước bạ 423,4 tỷ đồng, bằng 47,05% dự toán và giảm 8,04%; Thu từ hoạt động xuất nhập khẩu 510 tỷ đồng, bằng 28,33% dự toán và giảm 38,97%. Bên cạnh đó có một số khoản thu so với cùng kỳ tăng như: Thuế thu nhập cá nhân 380,8 tỷ đồng, bằng 61,42% dự toán và tăng 17,45%; Thuế bảo vệ môi trường 954,8 tỷ đồng, bằng 45,97% dự toán và tăng 18,29%; Thu tiền sử dụng đất 1.904,6 tỷ đồng, bằng 76,19% dự toán và tăng 32,47%; …

Tổng chi ngân sách 6 tháng ước đạt 14.223,4 tỷ đồng, bằng 52,45% dự toán. Trong đó chi đầu tư phát triển 4.885 tỷ đồng, bằng 74,11% dự toán; chi thường xuyên 8.923,6 tỷ đồng, bằng 44,45% dự toán. Các khoản chi quan trọng trong chi thường xuyên đều bảo đảm như: Chi sự nghiệp kinh tế 885 tỷ đồng, bằng 45,09% dự toán; chi sự nghiệp giáo dục đào tạo 3.688 tỷ đồng, bằng 43,06% dự toán; chi sự nghiệp y tế 1.250 tỷ đồng, bằng 54,30%; chi đảm bảo xã hội 515 tỷ đồng, bằng 43,95% dự toán và chi quản lý hành chính 1.655,8 tỷ đồng, bằng 45,18% dự toán. Các khoản chi đầu năm chủ yếu tập trung chi lương và các khoản có tính chất lương, chi thăm hỏi chúc Tết các đối tượng chính sách, chi mừng thọ, chi hỗ trợ hộ nghèo, chi hỗ trợ dịch bệnh Covid-19, …

Trong 6 tháng đầu năm 2020, nguồn vốn huy động trên địa bàn tăng khá và tăng hầu hết ở các tổ chức tín dụng, tính đến 30/6/2020 nguồn vốn huy động trên địa bàn ước đạt 149.344 tỷ đồng, tăng 6,5% so với đầu năm (+8.502 tỷ đồng); chủ yếu tăng nguồn tiền gửi tiết kiệm do khối lượng tiền nhàn rỗi trong dân nhiều. Dư nợ cho vay trên địa bàn ước đạt 203.135 tỷ đồng, tăng 5,5% so với đầu năm (+10.590 tỷ đồng), trong đó cho vay trung và dài hạn ước đạt 92.431 tỷ đồng, chiếm 50,3% tổng dư nợ. Nợ xấu tại các tổ chức tín dụng trên địa bàn ước đạt 1.862 tỷ đồng, chiếm 0,9% tổng dư nợ.

Ước tính đến 30/6/2020, tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt 89,5% dân số; toàn tỉnh có 221.372 người tham gia BHXH bắt buộc; 2.825.629 người tham gia BHYT; 39.252 người tham gia BHXH tự nguyện.

3. Giá cả thị trường

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 6 năm 2020 tăng 0,73% so với tháng trước, giảm 0,69% so với tháng 12 năm trước và tăng 2,77% so với cùng kỳ năm trước. Trong số 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ có 5 nhóm hàng hóa có chỉ số giá tăng so với tháng trước đó là hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,60%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,37%; giao thông tăng 4,86% (do trong kỳ có 4 lần tăng giá xăng, dầu); văn hóa, giải trí, du lịch tăng 0,33%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,14%. Bên cạnh đó, có 3 nhóm hàng giảm: May mặc, mũ nón, giày dép giảm 0,09%; Nhà ở, điện nước, chất đốt và VLXD giảm 0,53%; thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,08%. Có 3 nhóm đứng giá là thuốc và dịch vụ y tế, nhóm bưu chính viễn thông và nhóm giáo dục.

Bình quân 6 tháng chỉ số giá tiêu dùng tăng 3,52% so với cùng kỳ năm trước, tăng mạnh nhất là nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 10,31%; đồ uống và thuốc lá tăng 1,47%; may mặc, mũ nón và giày dép tăng 1,31%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,92%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 2,74%; giáo dục tăng 4,89%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 3,30%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 3,15%. Bên cạnh đó, có nhóm hàng hóa giảm là: Nhà ở, điện nước, chất đốt và VLXD giảm 0,16%; giao thông giảm 7,94%; Bưu chính viễn thông giảm 0,08%. 

Chỉ số giá vàng so với tháng trước tăng 2,30%, so với tháng 12/2019 tăng 15,25%, so với cùng kỳ năm trước tăng 27,91%; chỉ số đô la Mỹ giảm 0,52% so với tháng trước, so với tháng 12/2019 tăng 0,17%, so với cùng kỳ năm trước giảm 0,26%.

4. Đầu tư và xây dựng

                6 tháng đầu năm 2020 lĩnh vực đầu tư xây dựng phát triển khá, khu vực nhà nước vốn đầu tư phát triển tăng cao so cùng kỳ năm trước. Vốn đầu tư phát triển quý II/2020 thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 2.073 tỷ đồng, tăng 62,13% so cùng kỳ năm 2019. Trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 988,9 tỷ đồng, tăng 83,01%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện ước đạt 666,5 tỷ đồng, tăng 44,15%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 417,6 tỷ đồng, tăng 51,38%. Cộng dồn 6 tháng đầu năm ước đạt 3.488,4 tỷ đồng, tăng 36,8% so với cùng kỳ năm trước.

                Ước tính tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn quý II/2020 ước đạt 19.001 tỷ đồng đưa 6 tháng năm 2020 ước đạt 33.593,5 tỷ đồng, tăng 11,37% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó vốn nhà nước ước đạt 6.970,8 tỷ đồng, tăng 7,55% (Trung ương quản lý tăng 1,74%, địa phương quản lý tăng 10,64%); vốn ngoài nhà nước ước đạt 25.304,7 tỷ đồng, tăng 8,60% (vốn doanh nghiệp tăng 11,1%, vốn dân cư tăng 7,00%); khu vực vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng mạnh và ước đạt 1.318,1 tỷ đồng, tăng 243,77%. Khi phân theo khoản mục đầu tư thì vốn đầu tư xây dựng cơ bản 6 tháng 2020 ước đạt 29.881,2 tỷ đồng, chiếm 88,95% tổng vốn, tăng 10,39% so với cùng kỳ năm trước; vốn mua sắm tài sản cố định 1.648,5 tỷ đồng, tăng 33,67%; vốn sửa chữa lớn, nâng cấp TSCĐ 1.345,6 tỷ đồng, tăng 34,68%; …

                Những dự án trọng điểm được đôn đốc thực hiện như: Cảng Cửa Lò, cảng Hàng không Vinh, cầu Cửa Hội qua sông Lam, dự án đường bộ cao tốc Bắc Nam phía Đông đoạn tỉnh Nghệ An, hạng mục kéo dài đường ngang và đường vào nhà máy may Minh Anh; nâng cấp, mở rộng QL15A đoạn Km320+700 - Km324+500; dự án đường Mường Xén - Ta Đo - Khe Kiền đoạn Km0 - Km7, đường giao thông nối Vinh - Cửa Lò (giai đoạn 1); cầu Bến Quan; dự án LRAMP hợp phần đường; cầu Cồn Gát (huyện Nam Đàn), ...

                Vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước thực hiện trong kỳ như: Xây nhà tưởng niệm chủ tịch Hồ Chí Minh tại khu di tích Kim Liên, Trụ sở làm việc Công an huyện Thanh Chương, Tuyến đê biển và trồng cây chắn sóng vùng Đông Hồi thuộc xã Quỳnh Lập, đường Mường Xén - Ta Đo - Khe Kiền, phát triển đô thị loại vừa tại Việt Nam - Tiểu dự án thành phố Vinh, đường từ Thị trấn huyện Thanh Chương đi vào khu tái định cư thủy điện Bản Vẽ huyện Thanh Chương, tiểu dự án 3, dự án sửa chữa, nâng cao an toàn đập WB8, cầu Cửa Hội bắc qua sông Lam, dự án hồ chứa nước bản Mồng, …

Một số công trình của doanh nghiệp ngoài nhà nước và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện trong kỳ: Khu liên hợp sản xuất vật liệu xây dựng Trung Đô, dây chuyền sản xuất mỳ ăn liền Omachi của Masan, trang trại chăn nuôi lợn tại Quỳ Hợp của công ty MNS Farm, dự án nâng cấp mở rộng nhà máy nước Cửa Lò, nhà máy xi măng Tân Thắng, nhà máy may An Hưng ở huyện Yên Thành, đầu tư cần trục chân đê 40 tấn tại cảng Cửa Lò, Khu công nghiệp, đô thị và dịch vụ VSIP Nghệ An (GĐ1), dự án đầu tư khu công nghiệp WHA Hemaraj 1- Nghệ An, nhà xưởng sản xuất cần câu cá của công ty Great Longview, nhà máy Em-tech Vinh, nhà máy chế biến hải sản ASKA, dự án sản xuất tai nghe Airpod Luxshare ICT Nghệ An ...

                5. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp

Trong 6 tháng đầu năm 2020 đã cấp đăng ký thành lập mới cho 821 doanh nghiệp, giảm 3,30% so với cùng kỳ; Số doanh nghiệp đăng ký hoạt động trở lại là 310 doanh nghiệp, giảm 14 doanh nghiệp so cùng kỳ. Số doanh nghiệp đăng ký tạm dừng hoạt động là 512 doanh nghiệp, tăng 88 doanh nghiệp so cùng kỳ; Tổng số vốn các doanh nghiệp đăng ký là 6.468,5 tỷ đồng, giảm 10% so với cùng kỳ; Số doanh nghiệp giải thể là 59 doanh nghiệp, tăng 18 doanh nghiệp so với cùng kỳ; Số lần doanh nghiệp đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh là: 1.034 lần, tăng 6,8% so với cùng kỳ. Theo kết quả rà soát doanh nghiệp tính đến 31/12/2019 trên địa bàn toàn tỉnh hiện có 11.936 doanh nghiệp đang hoạt động. Tính đến ngày 16/6/2020 trên địa bàn tỉnh Nghệ An có 200 doanh nghiệp nợ 882 tỷ đồng tiền thuế.

6. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

                6.1. Sản xuất nông nghiệp

a. Trồng trọt:

Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm vụ Đông Xuân 2020 đạt 187.210,89 ha, giảm 1,96% (-3.734,8 ha) so với cùng kỳ năm trước, cụ thể một số cây trồng chính như sau:

Cây lương thực gieo trồng 127.319,22 ha, giảm 1,21% (-1.555,46 ha) so với cùng kỳ năm trước, trong đó:

Cây lúa đã gieo cấy đạt 92.252,35 ha, giảm 0,15% (-139,18 ha) so với vụ Đông Xuân năm trước, trong đó vùng đồng bằng có 61.129,14 ha, chiếm 66,26% tổng diện tích lúa; vùng núi thấp 23.509,22 ha, chiếm 25,48%; còn lại vùng núi cao 7.613,99 ha, chiếm 8,25%. Ước tính năng suất vụ Đông Xuân năm nay đạt 67,03 tạ/ha, sản lượng ước đạt 618.368 tấn, tăng 1,14% (+6.960 tấn).

Cây ngô diện tích gieo trồng đạt 35.066,87 ha, giảm 3,88% (-1.416,28 ha) so với vụ Đông Xuân năm trước, trong đó diện tích ngô Xuân 17.715,99 ha, tăng 0,57% (+100,11 ha). Năng suất ngô Đông Xuân ước đạt 49,43 tạ/ha; sản lượng ước tính đạt 173.336 tấn, giảm 2,06% (-3.637 tấn) so với cùng vụ năm trước. Mặc dù năng suất ngô tăng nhưng diện tích giảm mạnh hơn nên sản lượng ngô giảm so cùng vụ năm trước.

                Cây lấy củ có chất bột: diện tích gieo trồng đạt 3.831,6 ha, giảm 28,88% (-1.555,85 ha) so với cùng vụ năm trước. Trong đó cây khoai lang diện tích gieo trồng ước đạt 2.842,41 ha, giảm 6,88% (- 210 ha); năng suất ước đạt 72,33 tạ/ha; sản lượng ước đạt 20.559 tấn, giảm 5,20% (-1.128,57 tấn). Khoai lang trồng tập trung chủ yếu ở các huyện Quỳnh Lưu: 422,13 ha, Thanh Chương 349 ha, Yên Thành 249,37 ha, Qùy Hợp 207,71 ha, … diện tích sắn hiện có 12.096,92 ha, giảm 17,80% (-2.619,4 ha).

                Cây mía diện tích 20.564,68 ha, giảm 11,49% (-2.669,65 ha) so với cùng kỳ năm trước.

Cây lạc diện tích gieo trỉa đạt 12.210,76 ha, giảm 4,02% (-511,3 ha); năng suất ước đạt 29,66 tạ/ha; sản lượng 36.217 tấn, giảm 2,67% (-994,64 tấn); Cây vừng diện tích gieo trồng ước đạt 197,81 ha giảm 3,99% (-8,21 ha) so với cùng kỳ năm trước, năng suất ước đạt 11,66 tạ/ha; sản lương ước đạt 231 tấn, tăng 75 tấn. Cây đậu tương diện tích gieo trồng đạt 103 ha, giảm 35,85% (-57,6 ha) so với cùng vụ năm trước, năng suất ước đạt 22,91 tạ/ha; sản lượng ước đạt 236 tấn, giảm 116 tấn.

Cây rau đậu, hoa: diện tích gieo trồng đạt 26.190,78 ha, tăng 0,96% (+249,04 ha) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, diện tích rau các loại ước đạt 24.799 ha, tăng 1,09% (+266,69 ha); năng suất ước đạt 155,73 tạ/ha; sản lượng ước đạt 386.183 tấn, tăng 4,01% (+14.896 tấn); diện tích đậu 1.178,06 ha, tăng 1,16% (+13,51 ha), sản lượng ước đạt 1.538 tấn, tăng 9,7% (+136 tấn).

Cây hàng năm khác: diện tích gieo trồng đạt 17.055,82 ha, tăng 1,89% (+315,67 ha) so với cùng kỳ năm trước, trong đó chủ yếu là diện tích cây cỏ voi 12.339 ha để làm thức ăn cho bò sữa, ngô sinh khối 2.212 ha.

                b. Chăn nuôi:

Tổng đàn trâu bò ước đạt 747.692 con, tăng 1,76% (+5.624 con) so với cùng kỳ năm trước. Đàn trâu 270.110 con, giảm 1,13% (-3.078 con). Sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng là 9.738 tấn, tăng 2,58% (+245 tấn); đàn bò 477.582 con, tăng 1,86% (+8.702 con). Sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng ước đạt 13.030 tấn, tăng 2,65% (+337 tấn); trong đó bò sữa 61.315 con, tăng 2,96% (+1.760 con); Tổng đàn lợn ước đạt 882.240 con, giảm 10,59% (-104.525 con). Sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng ước đạt 71.985 tấn, giảm 1,7% (-1.244 tấn), do ảnh hưởng của dịch tả lợn châu Phi nên sản lượng thịt hơi xuất chuồng của đàn lợn giảm; Tổng đàn gia cầm ước đạt 26.125 nghìn con, tăng 7,40% (+1.800 nghìn con), trong đó đàn gà ước đạt 22.065 nghìn con, tăng 8,47% (+1.723 nghìn con). Sản lượng thịt gia cầm 6 tháng đầu năm 2020 ước đạt 42.063 tấn, tăng 7,13%. Trong kỳ, dịch cúm gia cầm xẩy ra đối với 1 hộ nên mức độ ảnh hưởng đối với tổng đàn gia cầm không đáng kể.

Tình hình dịch bệnh:

Bệnh Dịch tả lợn Châu Phi (DTLCP): Lũy kế đến 15h ngày 15/6/2020, bệnh DTLCP đã xảy ra tại 21.456 hộ, 2.628 xóm, 359 xã và 21 huyện, thành phố, thị xã trên địa bàn tỉnh. Với tổng số lợn đã tiêu hủy là 95.724 con chiếm 10,24% tổng đàn, tổng trọng lượng 4.836.417 kg chiếm 3,67% tổng sản lượng thịt hơi xuất chuồng. Đã qua 30 ngày không phát sinh thêm kể từ ngày tiêu hủy con cuối cùng mắc bệnh: 357 xã của 21 huyện, thành thị xã, chiếm 98,33% số xã hết dịch. Đang còn 02 ổ dịch/02 xã chưa qua 30 ngày (ở 76 hộ/17 xóm) thuộc 02 huyện (gồm 201 con lợn tiêu hủy), cụ thể: Thanh Chương (01 ổ), Yên Thành (01 ổ).

Bệnh Cúm gia cầm (CGC): Từ ngày 08/6 đến 09/6/2020 xảy ra 01 ổ dịch cúm gia cầm H5N6 tại 01 hộ chăn nuôi Trần Thắng tại xóm 14 xã Quỳnh Vinh, thị xã Hoàng Mai. Số gia cầm mắc bệnh đã tiêu hủy: 468 con ngan. Đã qua 07 ngày không phát sinh ca bệnh mới kể từ ngày tiêu hủy con mắc bệnh cuối cùng.

So với cùng kỳ năm trước tổng đàn trâu giảm do chương trình cơ giới hóa sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp ngày càng mở rộng thay cho sức kéo của đàn trâu; tổng đàn bò tăng (thịt bò trở thành thực phẩm ưa chuộng trong đời sống của người dân, hiệu quả kinh tế cao); Tuy nhiên, bò sữa trên địa bàn tăng do Công ty TH Nghĩa Đàn nhập một số lượng bò sữa về trong kỳ.

                6.2. Sản xuất lâm nghiệp

                Diện tích trồng rừng tập trung 6 tháng năm 2020 ước đạt 7.127 ha, tăng 5,07% (+344 ha) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó trồng rừng phòng hộ ước đạt 37 ha, rừng sản xuất 7.090 ha; trong kỳ cũng đã trồng được 3.740 ngàn cây phân tán, giảm 0,64% (-24 ngàn cây) so với cùng kỳ năm trước. Diện tích rừng hiện có 965.057 ha, khoanh nuôi tái sinh 67.420 ha và rừng trồng được chăm sóc 58.120 ha. Sản xuất cây giống phục vụ công tác trồng rừng 6 tháng ước đạt 161.478 nghìn cây, tăng 3,41% (+5.325 nghìn cây) so với cùng kỳ năm trước.

                Sản lượng khai thác lâm sản quý II và 6 tháng đạt khá, quý II/2020 gỗ các loại khai thác 402.962 m3, tăng 9,53% so với cùng kỳ năm trước; củi 305.419 ste, tăng 0,72%. Tính chung 6 tháng đầu năm 2020 gỗ các loại khai thác 567.387 m3, tăng 8,04% (+42.242 m3) so với cùng kỳ năm trước; củi 617.193 ste, tăng 0,99% (+6.041 ste); các sản phẩm khác như tre, luồng, vầu, nứa hàng, nhựa thông, quế, lá dong, măng tươi đều tăng hơn so với cùng kỳ năm trước.

Công tác bảo vệ rừng thường xuyên được quan tâm, tuy nhiên do thời tiết nắng nóng nên từ đầu năm đến nay (15/6) đã xảy ra 1 vụ cháy rừng ở xã Tiến Thủy huyện Quỳnh Lưu với diện tích thiệt hại 0,28 ha (thực bì); đã bắt giữ, xử lý 272 vụ vi phạm lâm luật; phá rừng trái phép: 87 vụ, thiệt hại 16,63 ha. Thu nộp ngân sách Nhà nước với số tiền là 2.284 triệu đồng.

6.3. Sản xuất thủy sản

                Nuôi trồng thủy sản: Diện tích nuôi trồng thủy sản 6 tháng đầu năm 2020 (không tính nuôi lồng bè) ước đạt 19.841 ha, tăng 0,43% (+87 ha) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó diện tích nuôi cá 18.139 ha, diện tích tôm 1.498 ha, diện tích thủy sản khác 204 ha.

                Để đáp ứng đủ nhu cầu nuôi trồng thủy sản trong và ngoài tỉnh, công tác sản xuất, phân phối giống thủy sản cũng phát triển khá. Số con giống đã sản xuất, phân phối trong 6 tháng đầu năm là 1.827 triệu con, trong đó cá 260 triệu con, tôm 1.546 triệu con, thủy sản khác 17 triệu con.

                Tổng sản lượng nuôi trồng và khai thác thủy sản trong quý II và 6 tháng đầu năm 2020 tăng khá do thời tiết thuận lợi cho ngư dân ra khơi. Sản lượng thủy sản nuôi trồng quý II/2020 ước đạt 16.029 tấn, tăng 4,68%; sản lượng khai thác ước đạt 56.388 tấn, tăng 9,76%; tính chung sản lượng thủy sản quý II ước đạt 72.417 tấn, tăng 8,59%. Cộng dồn 6 tháng đầu năm 2020 sản lượng thủy sản nuôi trồng ước đạt 29.780 tấn, tăng 4,75% tấn (+1.350 tấn), cá 24.056 tấn, tôm 3.423 tấn, thủy sản khác 2.301 tấn; sản lượng thủy sản khai thác ước đạt 91.289 tấn, tăng 11,14% (+9.148 tấn) so cùng kỳ năm trước. Tính chung tổng sản lượng nuôi trồng và khai thác thủy sản 6 tháng đầu năm ước đạt 121.069 tấn, tăng 9,49% (+10.483 tấn).

7. Sản xuất công nghiệp

Ngành công nghiệp Nghệ An 6 tháng đầu năm phát triển chậm hơn kịch bản tăng trưởng đề ra, nguyên nhân do bị ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, Nghị định 100/NĐ-CP, hạn hán thiếu nước phục vụ cho sản xuất điện, cùng với đó nhiều ngành chủ lực giảm mạnh so cùng kỳ năm trước, không có sản phẩm mới. Chỉ số sản xuất công nghiệp quý II/2020 tăng 0,05% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó công nghiệp khai khoáng giảm 4,51%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 2,15% (trong đó có một số ngành tăng khá như sản xuất và chế biến thực phẩm tăng 9,55%; sản xuất trang phục tăng 5,08%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 7,36%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 11,94%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 1,34%); sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí giảm 14,3%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 6,23%.

                Nhiều sản phẩm chủ yếu trong quý II có mức giảm sâu so với cùng kỳ năm trước như đường RS 3.112 tấn, giảm 82,43%; bia chai 10,14 triệu lít, giảm 35,28%; bia đóng lon 19,7 triệu lít, giảm 21,03%; vỏ bào, dăm gỗ 107 nghìn tấn, giảm 37,11%; bao bì 12,54 triệu chiếc, giảm 13,58%; ống thép Hoa sen 7.065 tấn, giảm 4,38%; điện sản xuất 534 triệu Kwh, giảm 17,83%; điện thương phẩm 903 triệu Kwh, giảm 0,71% ... Tuy nhiên trong kỳ có một số sản phẩm chủ yếu tăng như sữa chua tăng 19,17%; quần áo không dệt kim tăng 17,05%; xi măng tăng 2,31%, clanhke tăng 8,34%; tôn lợp tăng 14,64%; cửa ra vào bằng sắt tăng 5,58%; hộp lon bia tăng 27%,00; …

Tính chung 6 tháng đầu năm 2020 chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 1,08% so với cùng kỳ năm trước, trong đó công nghiệp khai khoáng tăng 2,58%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 3,89% (trong kỳ chỉ có một số sản phẩm có chỉ số tăng như sản xuất chế biến thực phẩm tăng 10,26%; sản xuất trang phục tăng 9,9%; sản xuất sản phẩm khoáng phi kim loại khác tăng 11,65%; sản xuất kim loại tăng 1,43%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 14,87%. Còn lại các chỉ số khác giảm so cùng kỳ năm 2019); công nghiệp sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí giảm 22,52%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 5,93%.

                Sáu tháng đầu năm một số sản phẩm chủ yếu giảm so với cùng kỳ năm trước như đường RS 95.226 tấn, giảm 9,96%; Bia đóng chai 16,8 triệu lít, giảm 44,71%; Bia đóng lon 36 triệu lít, giảm 25,07%; Vỏ bào dăm gỗ 178,3 nghìn tấn, giảm 39,39%; Thùng carton 9,9 triệu chiếc, giảm 39,88%; điện sản xuất 838,2 triệu Kwh, giảm 29,31%; … Tuy nhiên trong kỳ có nhiều sản phẩm chủ yếu tăng như: Sữa tươi 114,5 triệu lít, tăng 3,86%; Sữa chua 21,9 nghìn tấn, tăng 20,89%; thức ăn cho gia súc 66,3 nghìn tấn, tăng 3,05%; Clanke 3,4 triệu tấn, tăng 4,53%; Xi măng 3,3 triệu tấn, tăng 13,32%; Cửa ra vào bằng sắt 891 nghìn m2, tăng 17,36%; …

                8. Thương mại, dịch vụ

Tổng mức bán lẻ hàng hóa quý II/2020 theo giá hiện hành ước đạt 14.683 tỷ đồng, giảm 5,6% so với cùng quý năm trước làm cho tổng mức bán lẻ hàng hóa 6 tháng đầu năm 2020 ước đạt 30.789 tỷ đồng, chỉ tăng 0,21% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó nhóm lương thực, thực phẩm chiếm tỷ trọng lớn nhất với doanh thu trong kỳ ước đạt 10.900 tỷ đồng (chiếm 35,4% tổng số), tăng 11,09%; ô tô các loại 3.931 tỷ đồng, giảm 16,86%; phương tiện đi lại (trừ ô tô) 2.292 tỷ đồng, tăng 2,29%; xăng dầu 2.806 tỷ đồng, giảm 4,13%...

Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành quý II/2020 ước đạt 1.606,8 tỷ đồng, giảm 31,85% so với cùng kỳ năm trước. Cộng dồn 6 tháng doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước đạt 3.023,1 tỷ đồng, giảm 28,80% so với cùng kỳ năm trước; trong đó dịch vụ lưu trú phục vụ 1.297 nghìn lượt khách, giảm 57,81% so với cùng kỳ năm trước (1.020 nghìn lượt khách ngủ qua đêm, trong đó có 18,8 nghìn lượt khách quốc tế) với doanh thu dịch vụ lưu trú 299 tỷ đồng, giảm 53,67%; doanh thu dịch vụ ăn uống 2.724,2 tỷ đồng, giảm 24,34%; doanh thu dịch vụ du lịch lữ hành 23 tỷ đồng, giảm 71,03%.

Doanh thu hoạt động dịch vụ khác (trừ dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành) quý II/2020 ước đạt 1.188,7 tỷ đồng, giảm 26,20% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng/2020 ước đạt 2.667,6 tỷ đồng, giảm 15,44%; trong đó kinh doanh bất động sản 1.067,6 tỷ đồng, giảm 8,21%; dịch vụ hành chính 510,3 tỷ đồng, giảm 17,54%; dịch vụ y tế 517,9 tỷ đồng, giảm 0,05%; dịch vụ nghệ thuật, vui chơi giải trí 122 tỷ đồng, giảm 50,22%…

Do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 nên doanh thu hoạt động kinh doanh vận tải 6 tháng đầu năm 2020 chỉ tăng nhẹ so với cùng kỳ năm 2019, cụ thể như sau:

Vận chuyển hành khách quý II/2020 ước đạt 21,43 triệu lượt khách và 1.657,1 triệu lượt khách.km. So với cùng kỳ năm trước hành khách vận chuyển giảm 23,42% và hành khách luân chuyển giảm 19,99%. Tính chung 6 tháng khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 47,42 triệu lượt khách, giảm 14,37% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng hành khách luân chuyển 3.692,1 triệu lượt khách.km, giảm 10,84%.

Vận tải hàng hóa quý II/2020 ước đạt 29,86 triệu tấn và 883,7 triệu tấn.km. So với quý II/2019 khối lượng vận chuyển hàng hóa tăng 7,20%, khối lượng luân chuyển hàng hóa tăng 7,75%. Tính chung 6 tháng đầu năm khối lượng vận chuyển hàng hóa ước đạt 57,0 triệu tấn, tăng 3,59% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển hàng hóa 1.759,1 triệu tấn.km, tăng 3,76%.

Doanh thu vận tải, bốc xếp quý II ước đạt 2.483,4 tỷ đồng, đưa doanh thu 6 tháng ước đạt 4.982,6 tỷ đồng, tăng 0,04% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, doanh thu vận tải hàng hóa 3.266,3 tỷ đồng, tăng 2,73%; doanh thu vận tải hành khách 1.051,7 tỷ đồng, giảm 11,20% và doanh thu bốc xếp, dịch vụ vận tải 664,5 tỷ đồng, tăng 7,78%.

B. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI

1. Lao động, việc làm, đời sống dân cư

Dân số tỉnh Nghệ An có hơn 3,33 triệu người; trong đó lực lượng lao động có gần 2 triệu người đứng thứ 4 cả nước, hàng năm bổ sung khoảng 40 nghìn người và đang ở trong thời kỳ “dân số vàng”, đây là lợi thế về nguồn lao động dồi dào nhưng cũng là thách thức khi giải quyết việc làm cho người lao động.

Công tác giải quyết việc làm, chế độ cho người lao động đạt kết quả khá, ước 6 tháng đầu năm 2020 toàn tỉnh đã giải quyết việc làm cho 15.621 người (đạt 41% kế hoạch, đạt 81,5% so với cùng kỳ năm 2019), trong đó: đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng 2.568 người (đạt 18,72% kế hoạch; đạt 60,06% so với cùng kỳ năm 2019); số lao động nộp hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp trên địa bàn tỉnh, lũy kế đến hết 20/5/2020 là 6.825 người trong đó có 5.474 người có quyết định hưởng TCTN hàng tháng với tổng số tiền 75,8 tỷ đồng.

 6 tháng đầu năm 2020 kinh tế - xã hội tỉnh nhà mặc dù vẫn còn gặp nhiều khó khăn do bị ảnh hưởng của dịch Covid-19, Nghị định 100/2019/NĐ-CP, chiến tranh thương mại Mỹ-Trung, các ngành sản xuất kinh doanh có mức tăng trưởng chậm và thấp hơn cùng kỳ năm 2019. Điều này đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của các tầng lớp dân, nhất là những người làm công ăn lương ở các đơn vị sản xuất kinh doanh và những người trực tiếp sản xuất kinh doanh.

Đối với hộ sản xuất nông nghiệp do thời tiết năm nay tương đối thuận lợi nên sản xuất vụ Đông xuân 2020 được mùa, do đó đời sống của bà con nông dân cũng được cải thiện hơn nên tính đến thời điểm 15/6/2020 trên địa bàn tỉnh không còn hộ đói.

Với truyền thống đạo lý tốt đẹp “Thương người như thể thương thân”, "Cuộc sống dù khó khăn nhưng trọng nghĩa tình" của người dân xứ Nghệ, trong những năm qua, thông qua chương trình “Tết vì người nghèo”, tỉnh Nghệ An đã kêu gọi được hơn 287 tỷ đồng để chăm lo Tết cho hàng trăm ngàn lượt người nghèo trong tỉnh. Riêng Tết Canh Tý năm 2020, toàn tỉnh đã vận động ủng hộ Tết vì người nghèo được 150,89 tỷ đồng. Từ số tiền này đã tặng quà cho 101.796 hộ, trong đó có 51.949 hộ nghèo và 49.847 hộ cận nghèo, gia đình chính sách, các đối tượng bảo trợ xã hội; bình quân mỗi suất quà có trị giá 500 nghìn đồng, cùng với đó đã cứu đói cho nhân dân 908.400 kg gạo …

Thực hiện việc cấp 41.041 giấy chứng nhận hộ nghèo và 75.398 giấy chứng nhận hộ cận nghèo cho các huyện, thành, thị làm cơ sở thực hiện các chế độ, chính sách hỗ trợ giảm nghèo năm 2020.

Tiếp tục thực hiện tốt việc quản lý, chi trả chế độ trợ cấp ưu đãi thường xuyên cho 71.200 đối tượng người có công với cách mạng, với kinh phí 126 tỷ đồng/1 tháng; giải quyết chế độ chính sách cho 4.235 trường hợp; Phong trào Đền ơn đáp nghĩa được xã hội hóa sâu rộng, toàn tỉnh thu quỹ đền ơn đáp nghĩa 9 tỷ đồng; Tổng số hộ được hỗ trợ kinh phí xây dựng nhà ở theo Quyết định số 22/2013/QĐ-TTg ngày 26/4/2013 của Thủ tướng Chính phủ và Nghị quyết số 63/NQ-CP của Chính phủ về việc hỗ trợ người có công khó khăn về nhà ở là: 22.024/26.846 hộ (trong đó: xây mới: 10.962 hộ, sửa chữa: 11.062 hộ) với kinh phí đã thực hiện hỗ trợ là: 659,62 tỷ đồng (trong đó: Kinh phí xây mới: 438,38 tỷ đồng; kinh phí sửa chữa: 221,24 tỷ đồng). Phối hợp tổ chức tiếp nhận, bàn giao, di chuyển, lấy mẫu sinh phẩm 57 hài cốt liệt quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam hy sinh tại Lào mùa khô năm 2019- 2020 về án táng tại Nghĩa trang Liệt sĩ huyện Nghi Lộc.

Cùng với đó đã công tác bảo trợ xã hội được quan tâm với 133.778 đối tượng hưởng trợ cấp xã hội thường xuyên tại cộng đồng cho, tổng số kinh phí chi trả 5 tháng đầu năm là hơn 274 tỷ đồng; tổng số đối tượng được chăm sóc, nuôi dưỡng tại các cơ sở BTXH là: 875 đối tượng. Thực hiện việc kêu gọi ủng hộ trong cộng đồng và đạt kết quả tính đến ngày 25/5/2020, tổng số tiền mà các cơ quan, đơn vị ủng hộ, giúp đỡ các xã là hơn 51 tỷ đồng.

                2. Giáo dục

Trong 6 tháng đầu năm 2020, các trường học trên địa bàn tỉnh nghỉ học dài ngày để phòng chống dịch Covid-19, cho nên lịch học và lịch thi của các cấp học phải lùi thời gian để đảm bảo chất lượng giáo dục đào tạo. Tỉnh chỉ đạo tổ chức tốt kỳ thi tốt nghiệp phổ thông trung học đảm bảo an toàn và đúng quy chế.

Tích cực thực hiện Chương trình hành động 33-CTr/TU thực hiện Nghị quyết 29-QN/TW về đổi mới toàn diện giáo dục đào tạo. Nhìn chung chất lượng giáo dục có chuyển biến, việc giáo dục nhân cách, đạo đức cho học sinh tiếp tục được quan tâm; triển khai tích cực phổ cập giáo dục mầm non, trẻ mẫu giáo 5 tuổi; củng cố vững chắc chất lượng phổ cập giáo dục phổ thông; việc đánh giá chất lượng giáo dục ngày càng được nâng lên.

Kết quả thi học sinh giỏi quốc gia năm 2020 Nghệ An có 82/102 học sinh đạt giải, xếp thứ 3 toàn quốc, trong đó có 13 giải nhất, 31 giải nhì, 25 giải ba và 13 giải khuyến khích. Có 24 học sinh dự thi quốc tế vòng 2, kỳ thi chọn học sinh tham gia đội tuyển học sinh giỏi Quốc tế và khu vực năm 2020.

Đến nay, toàn tỉnh có 21/21 đơn vị cấp huyện đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi và đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học mức độ 3, 16/21 đơn vị đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học mức độ 2; 1/21 đơn vị cấp huyện đạt chuẩn phổ cập giáo dục THCS mức độ 3. Trong 6 tháng đầu năm đã công nhận thêm 22 trường đạt chuẩn quốc gia, nâng tổng số trường đạt chuẩn quốc gia lên 117 trường (có 20 trường đề nghị công nhận mới và 97 trường đề nghị công nhận lại).

3. Y tế

Tổ chức thực hiện có hiệu quả các biện pháp phòng chống dịch Covid-19, cùng với đó giám sát chặt chẽ các loại dịch bệnh; chủ động và tích cực phòng chống các bệnh truyền nhiễm gây dịch, khống chế có hiệu quả các bệnh truyền nhiễm gây dịch nguy hiểm, phát hiện sớm các trường hợp mắc bệnh đầu tiên, chủ động xử lý, không để dịch phát triển và lan rộng. 

Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, hoàn thiện quy trình khám, chữa bệnh, quy trình chuyên môn, kỹ thuật gắn với thực hiện tốt quản lý chất lượng bệnh viện tạo điều kiện thuận lợi cho người bệnh đến khám chữa bệnh. Trong 6 tháng đầu năm đã khám 2,4 triệu lượt người, điều trị nội trú hơn 280 nghìn lượt người, thực hiện phẫu thuật trên 60 nghìn ca các loại.

Trong quý II/2020 tiêu chảy xảy ra 1.804 ca; sốt rét 22 ca; sốt xuất huyết 147 ca; ngộ độc thực phẩm 1 vụ. Tính chung 6 tháng tiêu chảy có 3.780 ca; Sốt rét có 25 ca; sốt xuất huyết 171 ca; ngộ độc thực phẩm 1 vụ. So với 6 tháng năm trước tiêu chảy giảm 12,66%, sốt rét giảm 43,18%.

                Tình hình nhiễm HIV/AIDS: Đến ngày 30/4/2020 số người bị nhiễm HIV được phát hiện trên toàn tỉnh là 12.212 người, trong đó có 9.973 (chiếm 81,66%) người trong tỉnh. Căn bệnh HIV đã xảy ra ở 21/21 huyện/ thành phố/ thị xã. Trong tổng số người nhiễm HIV đã có 7.131 người chuyển sang bệnh AIDS và đã tử vong 4.410 người.

                4. Hoạt động Văn hóa – Thể thao

Sáu tháng đầu năm 2020 công tác văn hóa thông tin chủ yếu tập trung tuyên truyền, trang trí cổ động và tổ chức các hoạt động văn hóa phục vụ nhiệm vụ chính trị, các ngày lễ lớn của dân tộc như: Các hoạt động chào năm mới 2020, Đêm hội sắc Xuân miền Tây 2020, Kỷ niệm 90 năm ngày thành lập Đảng, Đại hội Đảng các cấp, 65 năm ngày thầy thuốc Việt Nam 27/2, Ngày thành lập đoàn TNCS HCM 26/3, 110 năm ngày Quốc tế Phụ nữ, 130 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, … Tuyên truyền trong nhân dân nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị.

Tiếp tục thực hiện chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 33-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương đảng khóa XI về phát triển văn hóa con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của đất nước,

Về thể dục thể thao tiếp tục thực hiện phong trào “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại” gắn với “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, kỷ niệm 74 năm ngày thể thao Việt Nam nhiều hoạt động thể dục thể thao quần chúng từ tỉnh đến cơ sở phát triển mạnh mẽ cả quy mô và chất lượng.

5. Trật tự, an toàn xã hội

Trong quý II năm 2020 trên địa bàn tỉnh xảy ra 310 vụ, bắt giữ 343 đối tượng phạm pháp kinh tế chủ yếu là buôn bán hàng cấm, hàng nhập lậu. Cộng dồn 6 tháng đầu năm đã xảy ra 842 vụ, giảm 4,21% với 911 đối tượng phạm pháp kinh tế và giảm 5,89% so với cùng kỳ năm trước.

Phạm pháp hình sự quý II/2020 xảy ra 257 vụ với 377 đối tượng, tội phạm chủ yếu là trộm cắp, cướp giật tài sản công dân. Tính chung 6 tháng đầu năm xảy ra 628 vụ, giảm 7,51% với 962 đối tượng phạm pháp hình sự và giảm 15,47% so với cùng kỳ năm trước.

Quý II năm 2020 buôn bán, vận chuyển, tàng trữ ma tuý xảy ra 212 vụ 278 đối tượng; Trong quý II có 260 đối tượng sử dụng ma túy bị phát hiện; 8 đối tượng hoạt động mại dâm. Tính chung 6 tháng đầu năm số vụ buôn bán, vận chuyển ma túy có 416 vụ bị phát hiện, giảm 17,62% so với cùng kỳ năm trước; bắt giữ 509 người, giảm 8,78%; số đối tượng sử dụng ma túy bị phát hiện 408 người, tăng 41,67%; số đối tượng hoạt động mại dâm 34 người, giảm 2,86%.

 Trong quý II năm 2020 xẩy ra 73 vụ tai nạn giao thông, làm chết 32 người, bị thương 61 người. Như vậy trong 6 tháng đã xẩy ra 172 vụ tai nạn giao thông, làm chết 75 người, bị thương 154 người, ước giá trị thiệt hại 5.198 triệu đồng. So với 6 tháng năm trước số vụ tai nạn giao thông giảm 19,63%, số người chết giảm 27,18%, bị thương giảm 9,94%.

Trong quý II phát hiện 97 vụ đánh bạc thu giữ 336 triệu đồng và nhiều tài sản khác. Tính chung 6 tháng phát hiện 237 vụ đánh bạc thu giữ 862 triệu đồng và nhiều tài sản khác.

Ngoài ra trong quý II năm 2020 đã xảy ra 19 vụ cháy, làm 2 người bị thương, ước giá trị thiệt hại 5,96 tỷ đồng. Cộng dồn 6 tháng đã xảy ra 44 vụ cháy, làm 2 người bị thương, ước giá trị thiệt hại khoảng 12,1 tỷ đồng; phát hiện 270 vụ gây ô nhiễm môi trường, chủ yếu là vi phạm quy định về bảo vệ môi trường kinh doanh thực phẩm không đảm bảo vệ sinh, các ngành chức năng đã xử phạt 318 triệu đồng.

Tình hình các gói hỗ trợ dịch Covid-19:

                Trong bối cảnh đại dịch Covid-19, ngày 29/4/2020, UBND tỉnh ban hành Kế hoạch số 226/KH-UBND triển khai thực hiện các chính sách hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch COVID-19 theo Nghị quyết 42/NQ-CP, Quyết định 15/2020/QĐ-TTg ngày 24/4/2020 của Thủ tướng Chính phủ. Đến thời điểm ngày 06/5/2020, Sở Lao động, Thương binh và Xã hội đã tổng hợp, đề nghì Sở Tài chính, trình UBND tỉnh (03 đợt) hỗ trợ cho 637.064 người với số kinh phí hỗ trợ là 609,9 tỷ đồng. Đợt 1, hỗ trợ 26.927 người có công hưởng trợ cấp ưu đãi, được hỗ trợ 40,39 tỷ đồng. Đợt 2, hỗ trợ 228.434 người với số kinh phí là 255,37 tỷ đồng. Đợt 3, hỗ trợ 381.703 người với số kinh phí là 314,18 tỷ đồng. Hiện nay, các huyện, thành phố và thị xã đang tập trung tiếp nhận hồ sơ các nhóm đối tượng theo quy định. Tính đến ngày 12/5/2020, các huyện, thành phố và thị xã đã thực hiện việc chi trả chế độ hỗ trợ cho các đối tượng đợt 1. Đến nay, tỉnh đang thực hiện chi trả đợt 2 và dự kiến trong thời gian tới sẽ tiếp tục chi trả đợt 3.

                Tỉnh đã tập trung bố trí nguồn lực và thực hiện mua sắm phục vụ công tác phòng chống dịch với tổng kinh phí trên 100 tỷ đồng (trong đó đối với lĩnh vực y tế, Tỉnh đã chỉ đạo các cơ sở y tế công lập mua 84 thiết bị phòng chống dịch với hơn 14 tỷ đồng, hóa chất, vật tư tiêu hao hơn 9 tỷ đồng; đảm bảo cung ứng đủ trang thiết bị y tế, vật tư tiêu hao, nhân lực đảm bảo y tế phục vụ công tác cách ly cho 10.228 người trên địa bàn tỉnh; đảm bảo đủ vật tư tiêu hao, sinh phẩm cho 6.572  xét nghiệm Covid-19. Đang làm thủ tục mua thêm 17 thiết bị bao gồm xét nghiệm chẩn đoán SARS - CoV-2, giường bệnh kết nối từ xa ... với dự toán gần 21 tỷ đồng, thực hiện kinh phí từ Mặt trận tổ quốc 8,5 tỷ đồng). 

Khái quát lại: 6 tháng đầu năm 2020 nền kinh tế - xã hội tỉnh Nghệ An gặp nhiều khó khăn như kinh tế phát triển chưa bền vững, đạt thấp so với kịch bản tăng trưởng đề ra, thị trường tiêu thụ sản phẩm chưa được mở rộng, năng suất, hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp, dịch bệnh xảy ra trên cây trồng, vật nuôi. Tuy nhiên dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, sự điều hành tích cực của Ủy ban nhân dân tỉnh cùng với sự cố gắng của cộng đồng doanh nghiệp và toàn thể nhân dân nền kinh tế - xã hội tỉnh nhà vẫn ổn định và có mặt phát triển: tốc độ tăng trưởng kinh tế ước đạt 2,69%, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 1,08%, tổng mức bán lẻ hàng hóa tăng 0,21%, chỉ số giá tiêu dùng bình quân tăng 3,52%, văn hóa xã hội có chuyển biến tích cực, trật tự an toàn xã hội được giữ vững.

Để khôi phục nền kinh tế năm 2020, với mục tiêu phát triển kinh tế đạt mức tăng trưởng ở mức khá, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm cần thực hiện như sau:

Cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư, nâng cao chất lượng tăng trưởng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế; đảm bảo các mục tiêu an sinh và phúc lợi xã hội, cải thiện đời sống nhân dân; tăng cường quốc phòng, an ninh và giữ vững trật tự, an toàn xã hội; đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu quả, hiệu lực bộ máy nhà nước; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; tăng cường công tác phòng, chống tham nhũng các ngành, các cấp cần tập trung vào một số giải pháp chủ yếu sau:

Một là, tiếp tục thực hiện có hiệu quả cơ cấu lại kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng đồng bộ, toàn diện, thực chất hơn. Tập trung khai thác, phát huy tiềm năng lợi thế để phát triển nhanh, bền vững; nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế. Bám sát các chủ trương của Quốc hội, Chính phủ về điều hành kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; dựa theo kịch bản tăng trưởng năm 2020 để tập trung chỉ đạo, nhất là những ngành, lĩnh vực so với kịch bản đang còn đạt ở mức thấp.

Hai là, thực hiện đồng bộ các giải pháp cơ cấu lại nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới. Chú trọng phát triển nông nghiệp công nghệ cao, chế biến nông sản, liên kết chuỗi giá trị, bảo đảm đầu ra cho nông sản, tăng thu nhập cho nông dân. Tạo điều kiện để doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn. Đẩy nhanh tiến độ Chương trình xây dựng nông thôn mới, triển khai thực hiện có hiệu quả Đề án xây dựng nông thôn mới trên địa bàn 27 xã khu vực biên giới của tỉnh.

Ba là, tập trung chỉ đạo quyết liệt phát triển công nghiệp. Cơ cấu lại ngành công nghiệp theo hướng phát triển những dự án sử dụng công nghệ mới, tiên tiến, đảm bảo về môi trường. Phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghiệp phục vụ nông nghiệp, công nghiệp hỗ trợ. Phát huy tối đa vai trò các ngành, sản phẩm công nghiệp chủ lực, công nghiệp có lợi thế cạnh tranh của tỉnh đã xác định như sữa, thủy điện, dệt may, MDF, xi măng, tôn Hoa sen, linh kiện điện tử. Tiếp tục triển khai hiệu quả các dự án công nghiệp.

Bốn là, nâng cao hơn nữa vai trò của các ngành dịch vụ đối với phát triển kinh tế. Tập trung phát triển các ngành dịch vụ ứng dụng công nghệ hiện đại, giá trị gia tăng cao như bưu chính, viễn thông, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm... Đa dạng hóa sản phẩm, chú trọng quảng bá, đẩy mạnh thực hiện cuộc vận động "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam"; xây dựng thương hiệu du lịch, nâng cao chất lượng, hiệu quả các dịch vụ du lịch, xây dựng môi trường du lịch thân thiện, văn minh, bảo đảm an ninh, an toàn cho du khách để du lịch thật sự trở thành ngành kinh tế quan trọng của tỉnh.

Năm là, cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh. Thúc đẩy đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp, phát triển doanh nghiệp. Đẩy mạnh hoạt động đối ngoại, tiếp tục đổi mới hình thức, phương pháp, nâng cao hiệu quả công tác xúc tiến, thu hút đầu tư. Chủ động tiếp cận các tập đoàn kinh tế, các nhà đầu tư chiến lược. Tiếp tục kiểm tra, giám sát việc thực hiện các dự án; xử lý nghiêm túc các dự án chậm triển khai.

Sáu là, chăm lo, phát triển văn hoá, xã hội, nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân. Cải cách chính sách bảo hiểm xã hội, tiền lương, giáo dục - đào tạo, y tế, dân số. Tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo, thực hiện có hiệu quả chính sách hỗ trợ phát triển giáo dục - đào tạo cho vùng khó khăn, đồng bào dân tộc thiểu số và đối tượng chính sách. Tiếp tục làm tốt công tác phòng, chống dịch bệnh nhất là dịch Covid-19, nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh. Quản lý chặt chẽ thuốc chữa bệnh, hành nghề y dược tư nhân; bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm. Chăm lo đời sống người có công với cách mạng; giải quyết việc làm, giảm nghèo bền vững. Thực hiện tốt Cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới và đô thị văn minh. Phát triển phong trào thể dục, thể thao trong mọi tầng lớp nhân dân và thể thao thành tích cao của tỉnh.

Bảy là, tiếp tục cải cách hành chính, trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính, tổ chức vận hành có hiệu quả Trung tâm phục vụ hành chính công; siết chặt kỷ luật, kỷ cương; tăng cường công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo; quyết liệt phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Thực hiện nghiêm các nghị quyết của Trung ương, Bộ Chính trị về đổi mới, sắp xếp lại bộ máy, tinh giản biên chế, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Siết chặt kỷ luật hành chính, tăng cường thanh tra công vụ.

Tám là, xây dựng nền quốc phòng vững mạnh. Giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Chủ động phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn kịp thời, hiệu quả các âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Thực hiện đồng bộ các giải pháp bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, tích cực đấu tranh phòng chống các loại tội phạm và tệ nạn xã hội nhất là đấu tranh, triệt phá các đường dây buôn bán, vận chuyển ma túy xuyên quốc gia; thực hiện các giải pháp bảo đảm an toàn giao thông, phòng chống cháy nổ, ngăn chặn hiệu quả hoạt động tín dụng đen, dịch vụ thu nợ, đòi nợ thuê./.

Nguồn: Ngụy Khắc Chiến, Cục Thống kê Nghệ An

 |  Đầu trang
 
<<   <  1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  ...  >  >>
 
 
 
 
 
 
Thư viện ảnh
Skip portletPortlet Menu