Giới thiệu chung
Skip portletPortlet Menu
 
Tin tức - Sự kiện
Skip portletPortlet Menu
 
Lĩnh vực chuyên môn
Skip portletPortlet Menu
 
 
Liên kết website
Skip portletPortlet Menu
 
 
 
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 3 và quí I năm 2020 tỉnh Nghệ An (30/03/2020 02:09 PM)

I. Tình hình Kinh tế

1. Tăng trưởng kinh tế

Tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP)

(Theo giá so sánh 2010)

 

Quý I/2020       (Tỷ đồng)

So sánh với cùng kỳ năm trước (%)

Mức đóng góp vào tăng trưởng chung (%)

Tổng số

18.528,4

103,68

3,68

- Nông, lâm nghiệp, thủy sản

4.004,4

104,75

1,03

- Công nghiệp – xây dựng

5.195,6

103,36

0,90

- Dịch vụ

8.231,9

105,13

2,13

- Thuế sản phẩm – trợ cấp sp

1.096,5

92,08

-0,38

Tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP) quý I/2020 theo giá so sánh 2010 ước đạt 18.528,4 tỷ đồng, tăng 3,68% so với quý I/2019, đây là mức tăng thấp nhất trong hơn 10 năm trở lại đây (năm 2015, tăng 6,22%; năm 2016, tăng 6,46%; năm 2017, tăng 6,52%; năm 2018, tăng 6,99%; năm 2019, tăng 7,00%.), trong đó khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản ước đạt 4.004,4 tỷ đồng, tăng 4,75%; khu vực công nghiệp – xây dựng 5.195,6 tỷ đồng, tăng 3,36% mức tăng này thấp nhất trong 7 năm trở lại đây (năm 2016, tăng 8,16%; năm 2017, tăng 8,72%;  năm 2018, tăng 11,00%; năm 2019, tăng 9,43%.), khu vực dịch vụ 8.231,9 tỷ đồng, tăng 5,13%, so với quí I trong thời gian 5 năm gần đây thì mức tăng này thấp nhất (năm 2016, tăng 6,13%; năm 2017, tăng 6,25%; năm 2018, tăng 6,44%; năm 2019, tăng 7,06%.), và thuế sản phẩm 1.096,5 tỷ đồng, giảm 7,92%, những năm gần đây không không có năm nào thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm giảm (năm 2016, tăng 7,06%; năm 2017, tăng 12,5%; năm 2018, tăng 2,08%; năm 2019, tăng 2,12%).

Trong 3,68% mức tăng trưởng chung, khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản đã đóng góp 1,03 điểm %; khu vực công nghiệp – xây dựng đóng góp 0,9 điểm %; khu vực dịch vụ đóng góp 2,13 điểm %; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm giảm 0,38 điểm %.

                Khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản tăng khá với mức tăng 4,75%, trong đó ngành nông nghiệp chiếm tỷ trọng 72,77% của toàn khu vực tăng 3,54%. Ngành lâm nghiệp có mức tăng thấp với mức tăng 3,21% và ngành thủy sản tăng khá với mức tăng 11,85% do sản lượng nuôi trồng và đánh bắt tăng cao so với cùng kỳ năm trước. Một số sản phẩm có sản lượng ở mức tăng trưởng khá trong kỳ như: Giong riềng tăng 24,82%; Khoai tây tăng 64,93%; Rau các loại tăng 2,18%; Gừng tăng 27,76%; Sản lượng gỗ khai thác tăng 4,56%; Sản lượng thủy sản tăng 10,87%; …

Khu vực công nghiệp – xây dựng giá trị tăng thêm tăng 3,36% so với quý 1 năm 2019, do trong kỳ ngành công nghiệp bị ảnh hưởng nặng nề của dịch bệnh Covid-19 và Nghị định 100/2019/NĐ-CP đã làm nhiều sản phẩm chủ lực giảm như: bia đóng chai giảm 53,48%; bia đóng lon giảm 25,76%; thùng, hộp bìa cứng giảm 46,31%; ống tuýp giảm 39,69%; sản phẩm khác bằng xi măng giảm 42,2%; cấu kiện và nhà lắp sẵn bằng kim loại giảm 19,42%; tôn lợp giảm 13,56%; hộp lon bia giảm 50,44%; …

Khu vực dịch vụ có mức tăng thấp và ước đạt 5,13% so cùng kỳ năm 2019, nguyên nhân giảm do ảnh hưởng của dịch Covid-19, đã tác động trực tiếp đến một số ngành: Trong đó giá trị tăng thêm của ngành bán buôn, bán lẻ tăng 5,91%; vận tải, kho bãi giảm 3,15%; dịch vụ lưu trú và ăn uống giảm 25,73%; ...

Cơ cấu kinh tế quý 1/2020 chuyển dịch như sau: ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản giảm từ 22,69% xuống 22,28%; ngành công nghiệp, xây dựng giảm từ 29,1% xuống 27,12%; ngành dịch vụ tăng từ 42,09% lên 44,7%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm giảm từ 6,12% xuống 5,9%.

2. Tài chính, ngân hàng, bảo hiểm

Tổng thu ngân sách trên địa bàn tỉnh 3 tháng đầu năm 2020 ước đạt 4.388,1 tỷ đồng, bằng 28,84% dự toán cả năm và tăng 24,01% so với cùng kỳ năm trước, trong đó thu nội địa ước đạt 4.138,1 tỷ đồng, bằng 30,84% dự toán và tăng 32,48%. Một số khoản thu so với cùng kỳ tăng khá như: Thu từ khu vực CTN-DV ngoài quốc doanh ước đạt 1.113,6 tỷ đồng, bằng 21,96% dự toán và tăng 3,34%; Thu lệ phí trước bạ 235 tỷ đồng, bằng 26,11% dự toán và tăng 4,03%; Thu phí và lệ phí ước đạt 90,4 tỷ đồng, bằng 31,72% dự toán và tăng 11,22%; Thu tiền sử dụng đất ước đạt 1.369,5 tỷ đồng, bằng 54,78% dự toán và tăng 78,13%. Tuy nhiên nếu trừ tiền sử dụng đất, thu ngân sách chỉ bằng 8,98% và có nhiều khoản thuế đạt thấp như Thu từ doanh nghiệp Trung ương quản lý giảm 11,4%; thu từ hoạt động xuất nhập khẩu, giảm 33,73%.

Tổng chi ngân sách 3 tháng ước đạt 7.212,4 tỷ đồng, bằng 26,6% dự toán. Trong đó chi đầu tư phát triển 3.150 tỷ đồng, bằng 47,79% dự toán; chi thường xuyên 3.957,4 tỷ đồng, bằng 19,71% dự toán. Các khoản chi quan trọng trong chi thường xuyên đều bảo đảm như: Chi sự nghiệp kinh tế 409,5 tỷ đồng, bằng 20,86% dự toán; chi sự nghiệp giáo dục đào tạo 1.550 tỷ đồng, bằng 18,1% dự toán; chi sự nghiệp y tế 521 tỷ đồng, bằng 22,63%; chi đảm bảo xã hội 290 tỷ đồng, bằng 24,75% dự toán và chi quản lý hành chính 790 tỷ đồng, bằng 21,55% dự toán. Các khoản chi đầu năm chủ yếu tập trung chi lương và các khoản có tính chất lương, chi thăm hỏi chúc Tết các đối tượng chính sách, chi mừng thọ, chi hỗ trợ hộ nghèo, …

Trong quý I/2020, nguồn vốn huy động trên địa bàn tăng khá và tăng hầu hết ở các tổ chức tín dụng, tính đến 31/3/2020 nguồn vốn huy động trên địa bàn (không tính Ngân hàng phát triển) ước đạt 147.734 tỷ đồng, tăng 5,4% so với đầu năm (+7.509 tỷ đồng); chủ yếu tăng nguồn tiền gửi tiết kiệm do sau Tết nguyên đán khối lượng tiền nhàn rỗi trong dân nhiều, bên cạnh đó các tổ chức áp dụng nhiều hình thức khuyến mãi nhân dịp đầu Xuân, nên việc gửi tiền nhàn rỗi vào ngân hàng vẫn được người dân lựa chọn. Dư nợ cho vay của các tổ chức tín dụng trên địa bàn ước đạt 206.786 tỷ đồng, tăng 0,9% với đầu năm (+1.899 tỷ đồng). Nợ xấu tại các tổ chức tín dụng trên địa bàn ước đạt 1.901 tỷ đồng, chiếm 0,92% tổng dư nợ.

Ước tính đến hết tháng 3/2020, tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt 83,26% dân số, toàn tỉnh có 229.098 người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, 49.873 người tham gia BHXH tự nguyện, 2.770.600 người tham gia BHYT. Tổng số thu ước đạt 1.438,2 tỷ đồng, đạt 20,99% kế hoạch. Bên cạnh đó giải quyết chế độ BHXH cho 26.246 người, số lượt khám chữa bệnh BHYT là 1.229.359 lượt người. Tổng chi BHXH, BHYT, BHTN là 3.092,3 tỷ đồng.

3. Giá cả, lạm phát

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 3 năm 2020 giảm 0,71% so với tháng trước, tăng 0,11% so với tháng 12 năm trước và tăng 4,05% so với cùng kỳ năm trước. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ có 1 nhóm hàng hóa có chỉ số giá tăng so với tháng trước đó là thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,10%. Có 7 nhóm hàng giảm: hàng ăn và dịch vụ giảm 0,31%; đồ uống và thuốc lá giảm 0,15%; may mặc, mũ nón và giày dép giảm 0,19%; nhà ở điện nước, chất đốt và VLXD giảm 0,69%; giao thông giảm 4,24%; văn hóa giải trí và du lịch giảm 0,15%; hàng hóa và dịch vụ khác giảm 0,24%. Có 3 nhóm đứng giá là nhóm thuốc và dịch vụ y tế, nhóm bưu chính viễn thông và nhóm giáo dục.

Bình quân 3 tháng chỉ số giá tiêu dùng tăng 4,75% so với cùng kỳ năm trước, tăng mạnh nhất là nhóm Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 9,43%; đồ uống và thuốc lá tăng 1,50%; may mặc, mũ nón và giày dép tăng 1,24%; nhà ở điện nước, chất đốt và VLXD tăng 1,92%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,56%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 2,73%; giao thông tăng 1,99%; giáo dục tăng 4,89%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 4,93%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 3,56%. Bên cạnh đó có nhóm hàng hóa Bưu chính viễn thông giảm 0,08%.

Chỉ số giá vàng so với tháng trước tăng 3,66%, so với tháng 12/2019 tăng 10,15%, so với cùng kỳ năm trước tăng 22,5%; chỉ số đô la Mỹ tăng 0,24% so với tháng trước, so với tháng 12/2019 tăng 0,27%, so với cùng kỳ năm trước tăng 0,35%.

4. Đầu tư và xây dựng

                Quý I/2020 lĩnh vực đầu tư xây dựng phát triển khá. Vốn đầu tư phát triển tháng 3/2020 thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 433,9 tỷ đồng, cộng dồn 3 tháng đầu năm ước đạt 1.414,1 tỷ đồng, tăng 11,22% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 615,5 tỷ đồng, tăng 12,77%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện ước đạt 488,5 tỷ đồng, tăng 8,87% và cấp xã ước đạt 310 tỷ đồng, tăng 11,99%.

                Ước tính tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn quý I/2020 đạt 14.210,9 tỷ đồng, tăng 4,63% so với cùng kỳ năm 2019. Trong đó vốn nhà nước ước đạt 2.759,3 tỷ đồng, tăng 1,61% (Trung ương quản lý giảm 9,36%, địa phương quản lý tăng 6,72%); vốn ngoài nhà nước 11.386,8 tỷ đồng, tăng 6,2%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 64,8 tỷ đồng, giảm 55,37%. Phân theo khoản mục đầu tư: vốn đầu tư xây dựng cơ bản quý I/2020 ước đạt 12.531 tỷ đồng, chiếm 88,18% tổng vốn, tăng 3,51% so với cùng kỳ năm 2019; vốn mua sắm tài sản cố định 810,9 tỷ đồng; vốn sửa chữa lớn, nâng cấp TSCĐ 508,3 tỷ đồng; bổ sung vốn lưu động 248,4 tỷ đồng.

                   Công trình, dự án có vốn đầu tư lớn thực hiện trong kỳ: Xây dựng nhà tưởng niệm chủ tịch Hồ Chí Minh tại khu Di tích Kim Liên; Cơ sở làm việc Công an huyện Thanh Chương; Xây dựng tuyến đê biển và trồng cây chắn sóng vùng Đông Hồi thuộc xã Quỳnh Lập; Đường Mường Xén - Ta Đo - Khe Kiền; Phát triển đô thị loại vừa tại Việt Nam - Tiểu dự án thành phố Vinh; Đường từ Thị trấn huyện Thanh Chương đi vào khu Tái định cư thủy điện Bản Vẽ huyện Thanh Chương; Tiểu dự án 3, dự án Sửa chữa, nâng cao an toàn đập WB8 tỉnh Nghệ An; Cầu Cửa Hội bắc qua Sông Lam; Dự án Hồ chứa nước bản Mồng; Trạm nghiền Nghi Thiết của Công ty cổ phần xi măng Sông Lam; Khu Liên hợp sản xuất Vật liệu xây dựng Trung Đô; Nhà máy sản xuất gỗ ván MDF Thanh Thành Đạt; Cơ sở hạ tầng mạng thông tin di động của Viễn Thông Nghệ An; Dây chuyền sản xuất mỳ ăn liền Omachi của Masan; Trang trại chăn nuôi lợn tại Quỳ Hợp của Công ty MNS Farm; Dự án đầu tư Khu công nghiệp WHA Hemaraj 1- Nghệ An; Nhà xưởng sản xuất cần câu cá của Công ty Great Longview; Nhà máy sản xuất viên nén sinh khối Biomass Fuel và Nhà máy sản xuất linh kiện điện tử Em - Tech Vinh; …

                5. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp

 Trong năm 2019 đã cấp đăng ký thành lập mới cho 1.768 doanh nghiệp, giảm 7,38% so với cùng kỳ; tổng số vốn các doanh nghiệp đăng ký 15.726,9 tỷ đồng, bình quân khoảng 9,1 tỷ đồng/doanh nghiệp. Theo kết quả rà soát doanh nghiệp tính đến 31/12/2019 trên địa bàn toàn tỉnh hiện có 21.536 doanh nghiệp đã đăng ký thành lập (Số chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh là 659 đơn vị, giảm 20,98% (-175 đơn vị) so với cùng kỳ); số doanh nghiệp đăng ký hoạt động trở lại là 616 doanh nghiệp tăng 17,33% (+91 doanh nghiệp); số doanh nghiệp giải thể là 354 doanh nghiệp tăng 22,92% (+66 doanh nghiệp); số lần doanh nghiệp đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp là: 2.833 lần, tăng 15,39% (+378 lần) so với cùng kỳ; Tỷ lệ hồ sơ đăng ký doanh nghiệp qua mạng đạt 99,73% đứng đầu cả nước.

Tính đến ngày 16/3/2020, trên địa bàn tỉnh Nghệ An có 372 doanh nghiệp được cấp mới giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, tăng 8,45% so với cùng kỳ; Tổng vốn các doanh nghiệp đăng ký đạt 2.538,8 tỷ đồng, bằng 74,13% so với cùng kỳ; Đồng thời có 205 doanh nghiệp đăng ký hoạt động trở lại sản xuất kinh doanh, giảm 12 doanh nghiệp so với cùng kỳ; Số lần doanh nghiệp đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp là 441 lần, tăng 36,36%. Số Doanh nghiệp giải thể trong 3 tháng đầu năm là 28 doanh nghiệp, tăng 33,33% (+7 doanh nghiệp) so với cùng kỳ.

6. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

a, Sản xuất nông nghiệp

Quý I/2020 sản xuất nông nghiệp chủ yếu tập trung thu hoạch các loại cây trồng vụ Đông và đẩy nhanh tiến độ sản xuất vụ Xuân 2020.

Sản xuất vụ Đông: Tổng diện tích gieo trồng cây vụ đông năm nay toàn tỉnh đạt 40.355,8 ha, giảm 1,15% (-470,7 ha) so với cùng kỳ năm trước. Tình hình sản xuất vụ Đông năm nay không thuận lợi khi gặp thời tiết mưa lớn vào đầu vụ bên cạnh đó bị chuột và sâu keo mùa thu phá hoại, tình hình sản xuất vụ Đông cụ thể như sau:

        Cây ngô: Diện tích gieo trồng đạt 17.350,9 ha, giảm 8,04% (+1.516,4ha) so với vụ Đông năm trước; năng suất ngô Đông sơ bộ đạt 49,7 tạ/ha, tăng 0,53 tạ/ha, sản lượng sơ bộ đạt 86.233,9 tấn, tăng 7,55% (+7.041,4 tấn). Cụ thể huyện Đô Lương giảm 451,5 ha, Thanh Chương giảm 402 ha, Diễn Châu giảm 308,1 ha, Nam Đàn giảm 181,4 ha, ...

Khoai lang: Diện tích gieo trồng đạt 1.496,6 ha, giảm 12,63% (-216,3 ha) so với cùng vụ năm 2019. Diện tích khoai lang giảm do hiệu quả kinh tế mang không cao, nên người dân chủ động chuyển sang trồng các loại cây khác có giá trị kinh tế cao hơn.

Lạc: Diện tích lạc vụ đông gieo trỉa đạt 1.373,2 ha, tăng 0,97% (+13,2 ha) so với vụ Đông năm 2019, năng suất sơ bộ đạt 23,6 tạ/ha, sản lượng sơ bộ đạt 3.233,9 tấn, giảm 1,5% (+41,9 tấn) so với vụ Đông năm 2019.

 Cây rau, đậu, hoa cây cảnh: Diện tích gieo trồng đạt 12.363,7 ha, tăng 0,76% (+92,9 ha), trong đó rau các loại 12.185,9 ha, tăng 0,28% (+33,6 ha) so với vụ đông năm 2019, sơ bộ năng suất đạt 133,5 tạ/ha; sản lượng ước đạt 162.657,1 tấn, tăng 2,18% (+3.464,6 tấn).

Cây gia vị hàng năm có diện tích đạt 394,5 ha, tăng 5,69% so với cùng kỳ năm trước. Cây dược liệu, hương liệu hàng năm có diện tích ước đạt 339,3 ha, giảm 14,51%. Cây hàng năm khác: diện tích đạt 6.511,5 ha, tăng 21,84%.

Sản xuất vụ xuân: Tính đến ngày 08/3/2020 tổng diện tích gieo trồng vụ Xuân toàn tỉnh ước đạt 163.615 ha, giảm 0,82% (-1.358 ha) so với cùng kỳ và bằng 91,24% so với kế hoạch.

Diện tích lúa ước đạt 92.378 ha, so với cùng kỳ giảm 0,01%, đạt 102,64% kế hoạch, trong đó diện tích lúa lai ước đạt 48.449 ha (chiếm 52,45%) và lúa thuần 43.929,65 ha (chiếm 47,55%). Lúa vụ Xuân năm nay sử dụng một số giống lúa chủ yếu như Thái Xuyên 111, VT404, Nhị ưu 986, TBR 225, Thiên ưu 8, …

Diện tích ngô ước đạt 14.919 ha (trong đó ngô lấy hạt 14.164 ha), giảm 6,4% so với cùng kỳ đạt 85,25% so với kế hoạch.

Diện tích rau vụ Xuân ước đạt 9.959 ha (bằng 82,99% so kế hoạch), so với cùng kỳ giảm 0,26% (-25,85 ha).

Chăn nuôi: Chăn nuôi gia súc, gia cầm tiếp tục phát triển, tổng đàn trâu hiện nay ước đạt 270.662 con, giảm 0,4% (-1.078 con) so với cùng kỳ năm trước; Tổng đàn bò ước đạt 473.661 con, tăng 1,02% (+4.778 con), trong đó bò sữa 59.870 con, tăng 1,26% (+745 con); Tổng đàn lợn ước đạt 867.490 con, giảm 7,19% (-67.220 con); Tổng đàn gia cầm (gà, vịt, ngan, ngỗng) ước đạt 26.326 nghìn con, tăng 6,32% (+1.565 nghìn con), trong đó đàn gà ước đạt 21.484 nghìn con, tăng 3,66% (+759 nghìn con).

Tổng đàn trâu của tỉnh giảm dần do hiệu quả kinh tế không cao và môi trường chăn thả bị thu hẹp, đa số diện tích đất trồng lúa hiện nay đều sử dụng máy móc thay cho sức cày kéo của trâu.

Tình hình chăn nuôi bò trên địa bàn tỉnh ổn định do các chính sách hỗ trợ tín dụng, chương trình nông thôn mới, các chương trình trợ giúp của các doanh nghiệp, chương trình khuyến nông… vẫn tiếp tục được hỗ trợ. Ngoài ra chăn nuôi bò hàng hóa cho hiệu quả kinh tế cao và nhu cầu tiêu dùng thịt bò của người dân luôn ổn định, hơn nữa phương thức chăn nuôi ngày càng được cải tiến do đó người dân đầu tư chăn nuôi bò nhiều hơn.

Từ ngày 12/3/2019 đến 13/03/2020, trên địa bàn tỉnh, bệnh dịch tả lợn Châu Phi đã xảy ra tại 21.301 hộ, 2.586 xóm, 367 xã, 21 huyện, thành, thị. Tổng số lợn đã tiêu hủy: 95.199 con, tổng trọng lượng 4.809.857 kg (chiếm 3,65% tổng sản lượng thịt hơi xuất chuồng cả tỉnh). Đến nay, đã có 341 xã (chiếm 92,92% tổng số xã có dịch) thuộc 21 huyện, thành phố, thị xã công bố hết dịch. Có 13 huyện hết dịch. Hiện còn 26 xã (ở 845 hộ tại 79 xóm) thuộc 08 huyện có dịch chưa qua 30 ngày. Trong đó có 11 xã, mỗi xã chỉ xẩy ra dịch tại 1 - 2 hộ.

Bệnh Cúm gia cầm từ ngày 5/02/2020 đến 19/2/2020, trên địa bàn tỉnh Nghệ An đã xẩy ra dịch Cúm gia cầm H5N6 tại 8 hộ của 5 xã thuộc huyện Quỳnh Lưu, số gia cầm tiêu hủy 676 con, tất cả các ổ dịch cúm gia cầm trên đã qua 21 ngày không phát sinh ca bệnh mới kể từ gia cầm mắc bệnh tiêu hủy cuối cùng; Hiện nay, trên địa bàn tỉnh không còn dịch cúm gia cầm.

Bệnh Lở mồm long móng (LMLM) Từ ngày 12/02/2020 đã phát hiện ổ dịch bệnh LMLM type O ở gia súc tại 02 hộ, 01 xóm thuộc 01 xã của huyện Diễn Châu, làm 13 trâu bò mắc bệnh. Tất cả số trâu bò trên được cách ly, chăm sóc điều trị, đến nay tất cả các gia súc trên đã khỏi bệnh và đã qua 21 ngày không phát sinh ca bệnh mới kể từ gia súc cuối cùng khỏi triệu chứng bệnh; Hiện nay trên địa bàn tỉnh đã hết dịch Lở mồm long móng.

b, Sản xuất lâm nghiệp

Diện tích trồng rừng tập trung quý I/2020 ước đạt 4.330 ha, tăng 0,84% (+36 ha) so với cùng kỳ năm trước; Khai thác gỗ các loại được 164.425 m3, tăng 4,56% (+7.167 m3); sản lượng củi khai thác 311.774 ste củi, tăng 1,25% (3.848 ste)

Công tác bảo vệ rừng thường xuyên được quan tâm, tập trung bảo vệ tốt 965.057 ha rừng, tuy nhiên các vụ vi phạm luật bảo vệ rừng vẫn còn xảy ra. Từ đầu năm đến nay đã xẩy ra 31 vụ phá rừng, tăng 181,82%, với diện tích rừng bị phá 6 ha, tăng 180,38% so cùng kỳ. Trong quý I đã phát hiện xử lý 148 vụ vi phạm lâm luật, tịch thu 214 m3 gỗ các loại, thu nộp ngân sách 1,11 tỷ đồng

c, Sản xuất thủy sản

Tổng diện tích nuôi trồng thủy sản không sử dụng lồng bè, bể bồn tháng 3 ước đạt 1.017 ha, tăng 1,50% (+15 ha), đưa lũy kế 3 tháng đầu năm ước đạt 16.941 ha, tăng 0,09% (+15 ha).

Tháng 3 thời tiết rất thuận lợi cho việc đánh bắt thủy sản, khai thác xa bờ được tăng cường và đem lại nguồn thu cho ngư dân. Tổng sản lượng thủy sản tháng 3 ước đạt 21.108 tấn, tăng 8,44% (+1642 tấn), đưa lũy kế 3 tháng ước đạt 48.652 tấn, tăng 10,87% (+4.769 tấn) so với cùng kỳ năm trước.

Tổng số con giống được sản xuất trong tháng 3 ước đạt 496 triệu con, tăng 4,86% (+23 triệu con), đưa lũy kế 3 tháng ước đạt 724 triệu con, tăng 5,54% (+38 triệu con), so với cùng kỳ năm trước. 

7. Sản xuất công nghiệp

Dự báo ngành công nghiệp 2020 sẽ gặp không ít khó khăn, thử thách do ảnh hưởng dịch Covid-19 cùng với Nghị định 100/2019/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt. Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 3/2020 tăng 3,05% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó công nghiệp khai khoáng tăng 14,63%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 5,57%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí giảm 27,46%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,76%.

                Một số sản phẩm chủ yếu trong tháng có mức giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước như: Bia đóng chai giảm 61,66% so cùng kỳ năm 2019; Bia đóng lon giảm 37,77%; Thùng, hộp bằng bìa cứng giảm 55,24%; Ống tuýp giảm 27,91%; Bê tông tươi giảm 24,03%; Hộp lon bia giảm 82,13%; Nắp lon bia giảm 86,39%; …

Tính chung quý I năm 2020 chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 2,84% so với cùng kỳ năm trước, đây là mức tăng thấp nhất của IIP trong những năm qua (năm 2019, tăng 7,51%; năm 2018, tăng 15,21%; năm 2017, tăng 8,02%; năm 2016, tăng 9,55%; năm 2015, tăng 10,72%.). Trong đó công nghiệp khai khoáng tăng 11,91%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 6,41%; công nghiệp sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí giảm 32,34%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 4,58%. Chỉ số sản xuất công nghiệp 3 tháng đầu năm tăng ở mức thấp, nguyên nhân trong kỳ ảnh hưởng dịch Covid-19 cùng với Nghị định 100/2019/NĐ-CP, chiến tranh thương mại Mỹ-Trung, mặt khác các sản phẩm chủ lực đã qua thời kỳ đỉnh cao và không có sản phẩm mới và một số sản phẩm như, bia, tôn, thủy điện giảm mạnh so cùng kỳ năm 2019.

Ước tính quí 1/2020 một số sản phẩm chủ yếu có mức giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước như: bia đóng chai ước đạt 6,85 triệu lít, giảm 53,48%; bia đóng lon ước đạt 17,12 triệu lít, giảm 25,76%; thùng, hộp bìa cứng ước đạt 5,06 triệu chiếc, giảm 46,31%; ống tuýp ước đạt 2,11 nghìn tấn, giảm 39,69%; sản phẩm khác bằng xi măng ước đạt 1,78 triệu cái, giảm 42,2%; cấu kiện và nhà lắp sẵn bằng kim loại ước đạt 645,9 tấn, giảm 19,42%; tôn lợp ước đạt 129,5 nghìn tấn, giảm 13,56%; hộp lon bia ước đạt 1,06 nghìn tấn, giảm 50,44%; nắp lon bia ước đạt 18,6 tấn, giảm 75,68%; …

                8. Thương mại, dịch vụ

Tổng mức bán lẻ hàng hóa tháng 3/2020 theo giá hiện hành ước đạt 4.812,9 tỷ đồng, giảm 3,4% so với cùng tháng năm 2019. Tính chung 3 tháng đầu năm 2020 tổng mức bản lẻ hàng hóa ước đạt 16.103,7 tỷ đồng, tăng 6,17% so với cùng kỳ năm trước. Chia theo nhóm hàng bán lẻ thì nhóm lương thực, thực phẩm chiếm tỷ trọng lớn nhất với doanh thu trong kỳ ước đạt 5.434,6 tỷ đồng (chiếm 33,75% tổng số), tăng 10,06% so với cùng kỳ năm trước; nhóm đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình 1.956,2 tỷ đồng, giảm 0,35%; nhóm gỗ và vật liệu xây dựng 1.237,5 tỷ đồng, tăng 24,08%; ô tô các loại 2.183,7 tỷ đồng, giảm 2,84%; phương tiện đi lại (trừ ô tô) 1.174,1 tỷ đồng, tăng 6,43%; xăng dầu 1.690,4 tỷ đồng, tăng 22,23%; ...

Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tháng 3/2020 ước đạt 327,2 tỷ đồng, giảm 50,69% so với cùng kỳ năm trước. Cộng dồn 3 tháng doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước đạt 1.438,7 tỷ đồng, giảm 25,24% so với cùng kỳ năm trước; trong đó dịch vụ lưu trú phục vụ 976,6 nghìn lượt khách, giảm 27,56% so với cùng kỳ năm trước (707,7 nghìn lượt khách ngủ qua đêm) với doanh thu lưu trú 211,2 tỷ đồng, giảm 24,59%; doanh thu dịch vụ ăn uống 1.205,2 tỷ đồng, giảm 25,06%; doanh thu dịch vụ du lịch lữ hành 22,4 tỷ đồng, giảm 38,19%.

Doanh thu hoạt động dịch vụ khác (trừ dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành) tháng 3/2020 ước đạt 418,5 tỷ đồng, giảm 18,1% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý I/2020 ước đạt 1.478,9 tỷ đồng, giảm 4,23%; trong đó kinh doanh bất động sản 550,3 tỷ đồng, giảm 3,95%; dịch vụ hành chính 282,4 tỷ đồng, giảm 5,96%; dịch vụ y tế 267,3 tỷ đồng, tăng 7,87%; dịch vụ vui chơi giải trí 104,2 tỷ đồng, giảm 12,91%…

Nhìn chung hoạt động kinh doanh vận tải quý I gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của dịch Covid - 19.

Vận chuyển hành khách tháng 3/2020 ước đạt 8.041 nghìn lượt khách và 940,2 triệu lượt khách.km. So với cùng tháng năm trước hành khách vận chuyển giảm 1,96% và hành khách luân chuyển giảm 5,78%. Tính chung quý I/2020 khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 25,22 triệu lượt khách, tăng 4,24% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng hành khách luân chuyển 2.006,2 triệu lượt khách.km, tăng 3,12%.

Vận tải hàng hóa tháng 3/2020 ước đạt 8.888 nghìn tấn, giảm 2,3% và 300,4 triệu tấn.km, giảm 0,3% so với tháng 3/2019. Tính chung 3 tháng đầu năm khối lượng vận chuyển hàng hóa ước đạt 26,96 triệu tấn, giảm 0,21% với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển hàng hóa 945,7 triệu tấn.km, giảm 1,01%.

Doanh thu vận tải, bốc xếp quý I ước đạt 2.558 tỷ đồng, tăng 0,24% so với cùng kỳ năm trước, trong đó doanh thu vận tải hàng hóa 1.672,2 tỷ đồng, giảm 0,66%; doanh thu vận tải hành khách 555,5 tỷ đồng, tăng 0,29% và doanh thu bốc xếp dịch vụ vận tải 330,3 tỷ đồng, tăng 4,89%.

II. Một số vấn đề xã hội

1. Lao động, việc làm, đời sống dân cư

                Dân số trung bình tỉnh Nghệ An năm 2019 ước đạt 3,337 triệu người; trong đó lực lượng lao động có gần 2 triệu người đứng thứ 4 cả nước, hàng năm bổ sung hơn 30 nghìn người và đang ở trong thời kỳ “dân số vàng”, đây là lợi thế về nguồn lao động dồi dào nhưng cũng là thách thức khi giải quyết việc làm cho người lao động.

Trong quí I năm 2020, ước toàn tỉnh giải quyết việc làm cho 10.896 lao động, hay bằng 100,2% so cùng kỳ, trong đó: xuất khẩu lao động 2.568 người.

Công tác giải quyết việc làm, chế độ cho người lao động đạt kết quả khá, ước đến cuối quý I toàn tỉnh đã giải quyết việc làm cho 10.896 lao động, tăng 0,2% so cùng kỳ năm 2019, trong đó xuất khẩu lao động 2.568 người.

Quý I năm 2020 kinh tế - xã hội tỉnh nhà gặp rất nhiều khó khăn do bị ảnh hưởng của dịch Covid-19, Nghị định 100/2019/NĐ-CP, chiến tranh thương mại Mỹ-Trung, các ngành sản xuất kinh doanh có mức tăng trưởng chậm và thấp hơn cùng kỳ năm 2019. Điều này đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của các tầng lớp dân cư gặp nhiều khó khăn, nhất là những người làm công ăn lương ở các đơn vị sản xuất kinh doanh và những người trực tiếp sản xuất kinh doanh.

Đối với hộ sản xuất nông nghiệp do thời tiết năm nay không thuận lợi nên sản xuất rau, màu vụ Đông năng suất, sản lượng của nhiều loại cây trồng chủ yếu đều giảm so với vụ Đông năm 2019, do đó đời sống của bà con nông dân vẫn còn gặp nhiều khó khăn.

Với truyền thống đạo lý tốt đẹp “Thương người như thể thương thân”, "Cuộc sống dù khó khăn nhưng trọng nghĩa tình" của người dân xứ Nghệ, trong những năm qua, thông qua chương trình “Tết vì người nghèo”, tỉnh Nghệ An đã kêu gọi được hơn 287 tỷ đồng để chăm lo Tết cho hàng trăm ngàn lượt người nghèo trong tỉnh. Riêng Tết Canh Tý năm 2020, toàn tỉnh đã vận động ủng hộ Tết vì người nghèo được 150,89 tỷ đồng. Từ số tiền này đã tặng quà cho 101.796 hộ, trong đó có 51.949 hộ nghèo và 49.847 hộ cận nghèo, gia đình chính sách, các đối tượng bảo trợ xã hội; bình quân mỗi suất quà có trị giá 500 nghìn đồng, cùng với đó đã cứu đói cho nhân dân 908.400 kg gạo …

Tiếp tục thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo và khắc phục khó khăn vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn như chương trình 135 giai đoạn 2016-2020 với 3 hợp phần; hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt theo quyết định 755/QĐ-TTg; hỗ trợ vay vốn phát triển sản xuất đối với hộ dân tộc thiểu số theo quyết định 54/QĐ-TTg; hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2017-2020 theo quyết định 2085/QĐ-TTg; … Ngân hàng chính sách xã hội với mục tiêu năm 2020, tiếp tục tham mưu thực hiện có hiệu quả nội dung Chỉ thị số 29-CT/TU của BTV Tỉnh ủy, hoàn thành vượt chỉ tiêu tăng trưởng 25 tỷ đồng nguồn vốn nhận ủy thác từ ngân sách địa phương được Trung ương giao. Tăng trưởng nguồn vốn và dư nợ tối thiểu 8% so với năm 2019, tương ứng tăng thêm khoảng 700 tỷ đồng, dư nợ đến cuối năm 2020 ước đạt trên 9.000 tỷ đồng. Hoàn thành kế hoạch tăng trưởng huy động vốn được cấp trên giao (dự kiến: 60 tỷ đồng tiền gửi tiết kiệm qua tổ; 100 tỷ đồng tiền gửi từ các tổ chức, cá nhân); hoàn thành chỉ tiêu tăng trưởng dư nợ tối thiểu từ 99% trở lên. Tiếp tục nâng cao toàn diện chất lượng tín dụng, đạt các mục tiêu: Nợ quá hạn không tăng so với năm 2019; tăng cường thu nợ theo phân kỳ, đặc biệt là cho vay hộ nghèo về nhà ở và các chương trình dân tộc thiểu số; thu hồi nợ đến hạn kỳ cuối tối thiểu đạt 85%.

                2. Giáo dục

Trong quí I, các trường học trên địa bàn tỉnh nghỉ học dài ngày để phòng chống dịch Covid-19. Các trường THPT đã đi học lại từ ngày 16/3/2020, còn lại các cấp học từ THCS trở xuống chưa có lịch cụ thể và còn tùy thuộc vào tình hình dịch bệnh diễn ra. Do diễn biến phức tạp của dịch bệnh, nên sở Giáo dục và Đào tạo có công văn về việc hoãn thời gian tổ chức kỳ thi học sinh giỏi tỉnh năm học 2019 - 2020.

Trong 3 tháng đầu năm 2020 đã đề nghị công nhận mới 6 trường đạt chuẩn quốc gia, trong đó có: 3 trường mầm non, 2 trường trung học cơ sở và 1 trường trung học phổ thông. Cùng với đó đã công nhận lại 2 trường mầm non và công nhận nâng chuẩn 2 trường mầm non.

Tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đào tạo. Nhìn chung chất lượng giáo dục có nhiều chuyển biến, việc giáo dục nhân cách, đạo đức cho học sinh tiếp tục được quan tâm; triển khai tích cực phổ cập giáo dục mầm non, trẻ mẫu giáo 5 tuổi; củng cố vững chắc chất lượng phổ cập giáo dục phổ thông; việc đánh giá chất lượng giáo dục ngày càng cao.

Kết quả thi học sinh giỏi quốc gia năm 2019-2020, đoàn Nghệ An có 89/102 học sinh tham dự và đạt giải. Trong đó với 13 giải Nhất, 31 giải Nhì, 25 giải Ba và 13 giải Khuyến khích. Tất cả học sinh đạt giải đều là học sinh Trường THPT chuyên Phan Bội Châu. Trong số 82 học sinh đạt giải có 24 học sinh tiếp tục lọt vào vòng 2 để chọn đội tuyển quốc gia tham dự các kỳ thi học sinh giỏi quốc tế.

Đến nay, trên địa bàn tỉnh có 100% đơn vị cấp xã và cấp huyện đạt chuẩn xóa mù chữ mức độ 2 (mức độ cao nhất); có 21/21 đơn vị cấp huyện đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi; có 21/21 đơn vị cấp huyện đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học cấp độ 3 (mức cao nhất); có 1/21 đơn vị cấp huyện đạt chuẩn phổ cập giáo dục THCS mức độ 3.

3. Y tế

Ngành y tế đã cùng với toàn Đảng, toàn dân tích cực phòng chống dịch Covid-19, huy động tối đa nguồn lực nhằm đáp ứng cho công tác phòng và chống dịch. Ngành đã chỉ đạo 8 bệnh viện với 180 giường bệnh, trong đó có bệnh viện Hữu nghị đa khoa và bệnh viện Sản nhi chuẩn bị đầy đủ nguồn lực trong tình huống xấu nhất (dịch bệnh lan rộng). Sẵn sàng tiếp nhận, cách ly, điều trị bệnh nhân và phòng chống nhiễm khuẩn tại bệnh viện để ngăn chặn dịch lây lan.

Tăng cường công tác tuyên truyền trên tất cả phương tiện thông tin đại chúng về tình hình dịch bệnh Covid-19, để nhân dân yên tâm sản xuất kinh doanh và không được lơ là chủ quan trong công tác phòng chóng dịch bệnh.

Trong kỳ xảy ra 1.976 ca Tiêu chảy, giảm 10,71% (-237 ca) so cùng kỳ năm 2019. Nguyên nhân do thực hiện tốt công tác tuyên truyền cho người dân ý thức về ăn uống hợp vệ sinh, thực hiện ăn chín uống sôi, không ăn các thức ăn đã ôi thiu và có mùi nấm mốc ... Tiêu chảy xảy ra nhiều nhất ở các huyện: Thành phố Vinh 99 ca, Diễn Châu 99 ca, Kỳ Sơn 95 ca, Tương Dương 84 ca, Thị xã Hoàng Mai 60 ca, Hưng Nguyên 37 ca, Quỳ Hợp 32 ca, ...; Sốt rét xẩy ra 3 ca, giảm 80%; sốt xuất huyết 24 ca, tăng 24 lần.

                Tình hình nhiễm HIV/AIDS: Đến ngày 31/01/2020 số người bị nhiễm HIV được phát hiện trên toàn tỉnh là 12.174 người, trong đó có 9.935 người trong tỉnh. Căn bệnh HIV đã xảy ra tại 21/21 huyện/thành phố/thị xã. Trong tổng số người nhiễm HIV đã có 7.107 người chuyển sang bệnh AIDS và đã tử vong 4.396 người, người trong tỉnh 4.208 người.

                4. Văn hóa, thể thao

                Quí I năm 2020, công tác văn hóa thông tin chủ yếu tập trung tuyên truyền, trang trí cổ động và tổ chức các hoạt động văn hóa phục vụ nhiệm vụ chính trị, các ngày lễ lớn của dân tộc như:  Kỷ niệm 90 năm ngày thành lập Đảng; 65 năm ngày thầy thuốc Việt Nam 27/2; Ngày thành lập đoàn TNCS HCM 26/3; 110 năm ngày Quốc tế Phụ nữ… Tuyên truyền trong nhân dân nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị. Đặc biệt tuyên truyền cho nhân dân về công tác phòng và chống dịch Covid-19, đang diễn biến phức tạp…

Trong quý I/2020, được sự chỉ đạo của Ủy ban nhân dân tỉnh đã hoãn tổ chức các lễ hội trong tỉnh như: Lễ hội đền Vạn Lộc ở Cửa Lò, lễ hội Hang Bua ở Quỳ Châu, lễ hội Mường Ham ở Quỳ Hợp, lễ hội đền Quả Sơn ở Đô Lương, lễ hội đền Vạn – Cửa Rào, lễ hội đền Cờn ở Hoàng Mai, lễ hội Đền Nguyễn Xí ở Nghi Lộc, Lễ hội Làng Vạc ở Thị xã Thái Hòa, ... Các lễ hội trên đã bị hoãn để đảm bảo an toàn cho người dân trong và ngoài nước. Cùng với đó đã hoãn tổ chức các chương trình ca nhạc đặc sắc, hoãn tổ chức thi đấu các môn thể dục thể thao như bóng đá, bóng chuyền, đua thuyền, ném tiêu, cờ thẻ, chọi gà, đu tiên, đẩy gậy, đốt lửa trại...

5. Trật tự, an toàn xã hội

Từ 10/02/2020 đến 10/3/2020 phạm pháp kinh tế trên địa bàn tỉnh xảy ra 180 vụ, tăng 32,35% (+44 vụ) so cùng kỳ năm 2019; với 189 đối tượng, tăng 32,17%(+46 đối tượng) buôn lậu hàng hoá, buôn bán hàng cấm, hàng không rõ nguồn gốc. Thu giữ 106,4 kg pháo các loại, 250 kg thịt động vật, 1,5 m3 gỗ các loại, 10 m3 cát và một số hàng hóa khác. Dẫn đến quí I, số vụ phạm pháp kinh tế là 532 vụ, tăng 14,16%; với 568 đối tượng, tăng 7,58%.

Phạm pháp hình sự xảy ra 117 vụ, tăng 6,36% so cùng kỳ năm 2019, với 196 đối tượng, giảm 2,97%. Tính chung 3 tháng đầu năm xảy ra 371 vụ, tăng 6,3%, với 585 đối tượng phạm pháp hình sự, tăng 4,28%.

Buôn bán, vận chuyển, tàng trữ ma tuý xảy ra 61 vụ, tăng 7,02% so cùng kỳ năm 2019, với 71 đối tượng, tăng 16,39%. Cộng dồn 3 tháng đầu năm số vụ buôn bán, vận chuyển ma túy 204 vụ bị phát hiện, giảm 13,92% và bắt giữ 231 đối tương, giảm 9,41%.

 Trong tháng xẩy ra 32 vụ tai nạn giao thông, làm chết 15 người, bị thương 29 người, ước giá trị thiệt hại 1.013 triệu đồng. Như vậy quý I đã xẩy ra 99 vụ tai nạn giao thông, làm chết 43 người, bị thương 93 người, ước giá trị thiệt hại 2.371 triệu đồng. So với cùng quý năm trước tai nạn giao thông giảm về số vụ tai nạn giao thông giảm 9,41% và giảm số người chết 6,52%.

Trong tháng phát hiện 33 vụ đánh bạc với 182 đối tượng đã thu giữ 160 triệu đồng và nhiều tài sản khác. Tính chung 3 tháng phát hiện 131 vụ đánh bạc với 524 đối tượng và thu giữ 317,4 triệu đồng và nhiều tài sản khác.

Ngoài ra trong quý đã xảy ra 25 vụ cháy, ước giá trị thiệt hại khoảng 6.107 tỷ đồng.

Khái quát lại: Quý 1 năm 2020 nền kinh tế - xã hội tỉnh Nghệ An gặp rất nhiều khó khăn do ảnh hưởng trực tiếp của dịch Covid-19 và Nghị định 100/2019/NĐ-CP, các ngành kinh tế phát triển phát triển chậm lại, một số nhà máy thủy điện và nhà máy công nghiệp thiếu chuyên gia để vận hành, thị trường tiêu thụ sản phẩm một số sản phẩm bị ảnh hưởng, năng suất, hiệu quả chưa cao, dịch bệnh xảy ra trên cây trồng, vật nuôi. Nhưng dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, sự điều hành tích cực của Ủy ban nhân dân tỉnh cùng với sự cố gắng của cộng đồng doanh nghiệp và toàn thể nhân dân nền kinh tế - xã hội tỉnh nhà đạt được như sau: tốc độ tăng trưởng kinh tế ước đạt 3,68%, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 2,84%, tổng mức bán lẻ hàng hóa tăng 6,17%, thu ngân sách tăng 24,01%, chỉ số giá tiêu dùng bình quân 4,75%, văn hóa xã hội có chuyển biến tích cực, trật tự an toàn xã hội được giữ vững.

III. Các giải pháp phát triển kinh tế - xã hội

Để thực hiện ổn định xã hội và phát triển kinh tế, với mục tiêu là Cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư, đảm bảo các mục tiêu an sinh và phúc lợi xã hội, ổn định đời sống nhân dân; tăng cường quốc phòng, an ninh và giữ vững trật tự, an toàn xã hội; đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu quả, hiệu lực bộ máy nhà nước; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; tăng cường công tác phòng, chống dịch Covid-19, các cấp, các ngành cần tập trung vào một số giải pháp chủ yếu sau:

Một là, các ngành và các cấp tập trung công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành về phòng và chống dịch Covid-19. Đồng thời, tuyên truyền sâu rộng trong các cơ quan, tổ chức và cộng đồng dân cư về việc phòng chống dịch Covid-19, tuyệt đối không được chủ quan lơ là mất cảnh giác. Bên cạnh đó làm công tác ổn định tư tưởng cho nhân dân yên tâm tham gia sản xuất để đảm bảo ổn định kinh tế và thu nhập của người dân. Ngăn chặn các thế lực thù địch lợi dụng vào tình hình dịch bệnh để tuyên truyền, chống phá và gây tâm lý hoang mang bất ổn cho người dân. Triển khai các chương trình tín dụng và ngân hàng nhằm hỗ trợ người dân và doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh Covid-19,

Hai là, cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh. Thúc đẩy đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp, phát triển doanh nghiệp. Hỗ trợ doanh nghiệp miễn giảm đóng bảo hiểm, thuế, giảm lãi suất, khoanh nợ cho đến khi hết dịch bệnh Covid-19. Tiếp tục đổi mới hình thức, phương pháp, nâng cao hiệu quả công tác xúc tiến, thu hút đầu tư. Thực hiện nghiêm việc kiểm tra, giám sát và thực hiện các dự án, cùng với đó phải xử lý các dự án chậm triển khai.

Ba là, chăm lo, phát triển văn hoá, xã hội, nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân. Cải cách chính sách bảo hiểm xã hội; tiền lương; giáo dục - đào tạo duy trì phương pháp dạy học online trực tuyến, học trên truyền hình, … đối với những cấp học đang nghỉ học do dịch bệnh Covid-19. Tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo, thực hiện có hiệu quả chính sách hỗ trợ phát triển giáo dục - đào tạo cho vùng khó khăn, đồng bào dân tộc thiểu số và đối tượng chính sách. Chăm lo đời sống người có công với cách mạng; giải quyết việc làm, giảm nghèo bền vững. Thực hiện tốt Cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới và đô thị văn minh. Phát triển phong trào thể dục, thể thao trong mọi tầng lớp nhân dân và thể thao thành tích cao của tỉnh.

Bốn là, tiếp tục cải cách hành chính, trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính; siết chặt kỷ luật, kỷ cương; tăng cường công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo; quyết liệt phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Thực hiện nghiêm các nghị quyết của Trung ương, Bộ Chính trị về đổi mới, sắp xếp lại bộ máy, tinh giản biên chế, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.

Năm là, xây dựng nền quốc phòng vững mạnh. Giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Chủ động phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn kịp thời, hiệu quả các âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phòng chống dịch bệnh Covid-19 nhất là kiểm soát chặt chẽ những người từ nước ngoài về Việt Nam thuộc diện cách ly theo yêu cầu của Bộ Y tế. Không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Thực hiện đồng bộ các giải pháp bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, tích cực đấu tranh phòng chống các loại tội phạm và tệ nạn xã hội; thực hiện các giải pháp bảo đảm an toàn giao thông, phòng chống cháy nổ, tín dụng đen và buôn bán bào thai qua biên giới./.

                                         Nguồn: Ngụy Khắc Chiến, Cục Thống kê tỉnh Nghệ An

 |  Đầu trang
 
<<   <  1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  ...  >  >>
 
 
 
 
 
 
Thư viện ảnh
Skip portletPortlet Menu