Giới thiệu chung
Skip portletPortlet Menu
 
Tin tức - Sự kiện
Skip portletPortlet Menu
 
Lĩnh vực chuyên môn
Skip portletPortlet Menu
 
 
Liên kết website
Skip portletPortlet Menu
 
 
 

-->
Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Nghệ An quý I năm 2019 (02/04/2019 04:10 PM)

Năm 2019 tình hình kinh tế thế giới và trong nước được dự báo phát triển thấp hơn sau khi đã đạt kỷ lục của năm 2018. Quý I/2019 ở trong tỉnh tình hình kinh tế - xã hội vẫn còn gặp nhiều khó khăn do không có sản phẩm mới, thời tiết diễn biến bất thường, dịch bệnh xảy ra trên cây trồng, vật nuôi… đã ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống của các tầng lớp dân cư. Trước tình hình đó ngay từ đầu năm dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, sự giám sát của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Quyết định số 96/QĐ-UBND về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu để chỉ đạo, điều hành phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Nghệ An năm 2019; Quyết định số 259/QĐ-UBND về thành lập các tổ công tác để chỉ đạo, thúc đẩy thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2019 tỉnh Nghệ An. Do đó kinh tế - xã hội Quý I đã đạt được một số kết quả nhất định, cụ thể như sau:

A.     TÌNH HÌNH KINH TẾ

1. Tăng trưởng kinh tế

Tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP)

(Theo giá so sánh 2010)

 

Quý I/2019       (Tỷ đồng)

So sánh với cùng kỳ năm trước (%)

Mức đóng góp vào tăng trưởng chung (%)

Tổng số

17.799,2

107,00

7,00

- Nông, lâm nghiệp, thủy sản

3.308,0

104,33

0,82

- Công nghiệp – xây dựng

5.406,1

109,43

2,80

- Dịch vụ

8.267,1

107,06

3,28

- Thuế sản phẩm – trợ cấp sp

818,0

102,12

0,10

Tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP) quý I/2019 theo giá so sánh 2010 ước đạt 17.799,2 tỷ đồng, tăng 7,0% so với quý I/2018, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản ước đạt 3.308 tỷ đồng, tăng 4,33%; khu vực công nghiệp – xây dựng 5.406,1 tỷ đồng, tăng 9,43%; khu vực dịch vụ 8.267,1 tỷ đồng, tăng 7,06% và thuế sản phẩm 818 tỷ đồng tăng 2,12%. Tốc độ tăng trưởng kinh tế quý I năm nay tương đương tốc độ tăng của quý I năm 2018. Trong 3 khu vực của nền kinh tế có khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản và khu vực dịch vụ có tốc độ tăng cao hơn tốc độ tăng của quý I năm 2018, tuy nhiên khu vực công nghiệp, xây dựng lại có tốc độ tăng thấp hơn. Thuế sản phẩm tăng thấp do thu từ doanh nghiệp địa phương quản lý, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, thuế xuất nhập khẩu giảm so với cùng kỳ. So với kịch bản tăng trưởng đề ra (GRDP quý I tăng 8,0%; NLTS tăng 5,0%; CNXD tăng 12,51%; Dịch vụ tăng 7,0%; Thuế sản phẩm tăng 5%) thì chỉ có khu vực dịch vụ có mức tăng cao hơn một ít, còn lại các khu vực khác đều có mức tăng thấp hơn rất nhiều, nhất là ngành công nghiệp chỉ được 9,5%/kịch bản 15,5%.

Trong 7,0% mức tăng trưởng chung, khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản đã đóng góp 0,82 điểm % cao hơn mức đóng góp của quý I/2018 (0,75 điểm %); khu vực công nghiệp – xây dựng đóng góp 2,80 điểm % (quý I/2018 đóng góp 3,09 điểm %); khu vực dịch vụ đóng góp 3,28 điểm % (quý I/2018 đóng góp 3,04 điểm %); thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm đóng góp được 0,10 điểm %, (quý I/2018 đóng góp 0,11 điểm %).

                Khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản tăng khá với mức tăng 4,33% cao hơn cùng kỳ năm trước (quý I/2018 tăng 3,90%), trong đó ngành nông nghiệp chiếm tỷ trọng gần 77% của toàn khu vực tăng 3,40% do sản phẩm nông nghiệp quý I chủ yếu là rau màu vụ Đông tăng mạnh, như ngô tăng 5,03%; lạc tăng 18,97%; rau các loại tăng 3,93%,… bên cạnh đó ngành chăn nuôi vẫn phát triển khá, sản lượng xuất chuồng tăng  nên đã đóng góp đáng kể vào mức tăng của khu vực I (gần đây Nghệ An có dịch tả lợn nên sản lượng lợn xuất chuồng có chững lại). Ngành lâm nghiệp có mức tăng thấp với mức tăng 3,5% và ngành thủy sản tăng khá với mức tăng 10,3% do sản lượng nuôi trồng và đánh bắt tăng cao so với cùng kỳ năm trước.

Khu vực công nghiệp – xây dựng giá trị tăng thêm tăng 9,43% so với cùng quý năm trước, thấp hơn nhiều so với mức tăng của quý I năm 2018 (Quý I năm 2018 tăng 11,00%) do trong kỳ ngành công nghiệp không có sản phẩm mới đủ lớn để đẩy nhanh tốc độ phát triển công nghiệp và nhiều sản phẩm chủ lực truyền thống đã hết công suất như bia, đường, tôn, sữa, một số sản phẩm tăng chậm lại như dệt may, xi măng, thủy điện, gỗ MDF do đó giá trị tăng thêm của ngành công nghiệp chỉ tăng 9,50% (quý 1 năm 2018 tăng 12,77%). Ngành xây dựng vẫn duy trì được tốc độ phát triển khá với mức tăng 9,28% do trong kỳ khởi công được một số công trình lớn và xây dựng trong dân cư nhiều.

Khu vực dịch vụ tiếp tục phát triển do doanh thu các ngành dịch vụ tăng khá, tuy nhiên các ngành sử dụng ngân sách nhà nước phụ thuộc vào mức tăng của chi thường xuyên nên mức tăng của khu vực này chỉ đạt 7,06% (Quý I năm 2018 tăng 6,44%). Trong đó giá trị tăng thêm của ngành bán buôn, bán lẻ tăng 9,69%; vận tải, kho bãi tăng 9,47%; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 9,02%; quản lý nhà nước tăng 6,15%; giáo dục tăng 6,0%;...

Cơ cấu kinh tế quý 1/2019 chuyển dịch như sau: ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản giảm từ 18,44% xuống 18,40%; ngành công nghiệp, xây dựng giảm từ 31,65% xuống 31,11%; ngành dịch vụ tăng từ 45,22% lên 45,98%.

2. Tài chính, ngân hàng

Tổng thu ngân sách trên địa bàn tỉnh 3 tháng đầu năm 2019 ước đạt 3.354,64 tỷ đồng, bằng 24,85% dự toán cả năm và tăng 14,52% so với cùng kỳ năm trước, trong đó thu nội địa ước đạt 3.014,64 tỷ đồng, bằng 25,55% dự toán và tăng 23,23% (nếu không kể thu tiền sử dụng đất thì thu nội địa ước đạt 2.311,37 tỷ đồng, tăng 15,08%). Thu ngân sách quý I năm nay tăng cao hơn quý I của năm 2018 (Quý I năm 2018 tăng 1,33%). Một số khoản thu so với cùng kỳ tăng khá như: Thu từ khu vực CTN-DV ngoài quốc doanh ước đạt 1.077,84 tỷ đồng,  bằng 24,01% dự toán và tăng 18,32%; Thu lệ phí trước bạ 220,25 tỷ đồng, bằng 29,76% dự toán và tăng 27,09%; Thu phí và lệ phí ước đạt 83,33 tỷ đồng, bằng 32,68% dự toán và tăng 28,21%; Thu tiền sử dụng đất ước đạt 703,27 tỷ đồng, bằng 29,8% dự toán và tăng 60,65%; Thu cấp quyền khai thác khoáng sản ước đạt 97,83 tỷ đồng, bằng 61,14% dự toán và tăng 60,85%. Tuy nhiên có nhiều khoản thuế đạt thấp như Thu từ doanh nghiệp địa phương quản lý giảm 6,75%; Thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giảm 8,22%; Thuế thu nhập cá nhân giảm 9,16%; thu từ hoạt động xuất nhập khẩu giảm 29,6%.

Tổng chi ngân sách 3 tháng ước đạt 5.354,3 tỷ đồng, bằng 21,99% dự toán. Trong đó chi đầu tư phát triển 1.050 tỷ đồng, bằng 20,22% dự toán; chi thường xuyên 4.269,3 tỷ đồng, bằng 22,78% dự toán. Các khoản chi quan trọng trong chi thường xuyên đều bảo đảm như: Chi sự nghiệp kinh tế 450 tỷ đồng, bằng 24,02% dự toán; chi sự nghiệp giáo dục đào tạo 1.850 tỷ đồng, bằng 22,99% dự toán; chi sự nghiệp y tế 455 tỷ đồng, bằng 21,57%; chi đảm bảo xã hội 270 tỷ đồng, bằng 23,30% dự toán và chi quản lý hành chính 790 tỷ đồng, bằng 23,18% dự toán. Các khoản chi đầu năm chủ yếu tập trung chi lương và các khoản có tính chất lương, chi thăm hỏi chúc Tết các đối tượng chính sách, chi mừng thọ, chi hỗ trợ hộ nghèo,…

Trong quý I/2019, nguồn vốn huy động trên địa bàn tăng khá và tăng hầu hết ở các tổ chức tín dụng, tính đến 31/3/2019 nguồn vốn huy động trên địa bàn (không tính Ngân hàng phát triển) ước đạt 124.917 tỷ đồng, tăng 3,56% so với đầu năm (+4.291 tỷ đồng); chủ yếu tăng nguồn tiền gửi tiết kiệm do sau Tết nguyên đán khối lượng tiền nhàn rỗi trong dân nhiều, bên cạnh đó các tổ chức áp dụng nhiều hình thức khuyến mãi nhân dịp đầu Xuân, nên việc gửi tiền nhàn rỗi vào ngân hàng vẫn được người dân lựa chọn. Dư nợ cho vay của các tổ chức tín dụng trên địa bàn ước đạt 194.979 tỷ đồng, tăng 1,26% với đầu năm (+2.434 tỷ đồng). Nợ xấu tại các tổ chức tín dụng trên địa bàn ước đạt 1.822 tỷ đồng, chiếm 0,93% tổng dư nợ.

3. Giá cả, lạm phát

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 3 năm 2019 giảm 0,42% so với tháng trước, tăng 0,4% so với tháng 12/2018 và tăng 2,06% so với cùng kỳ năm trước. 5/11 nhóm hàng hóa, dịch vụ có chỉ số giá giảm và giảm nhiều nhất là nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 1,86% (trong đó lương thực giảm 0,31%, thực phẩm giảm 2,6%); nhóm đồ uống và thuốc lá giảm 0,26%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,34%. Nguyên nhân do nhu cầu tiêu dùng các mặt hàng như gạo nếp, thịt gia súc, gia cầm, bia, rượu, nước giải khát đều giảm sau Tết nguyên đán. Tuy nhiên trong kỳ có nhóm giao thông tăng giá mạnh với mức tăng 2,07% do điều chỉnh giá xăng dầu ngày 02/3/2019, theo đó giá xăng E5 tăng 939 đồng/lít, xăng RON 95 tăng 946 đồng/lít, dầu diesel tăng 959 đồng/lít; nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và VLXD tăng 0,57% do giá gas tăng 17.000 đồng/bình 12kg. Có 3 nhóm đứng giá là Thuốc và dịch vụ y tế; nhóm bưu chính viễn thông và nhóm giáo dục.

Như vậy bình quân 3 tháng năm 2019 chỉ số giá tiêu dùng CPI tăng 1,97% so với cùng kỳ, tăng cao nhất là nhóm giáo dục với mức tăng 5,13%; nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,97% (trong đó lương thực tăng 0,91%, thực phẩm tăng 5,47%); nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 2,44%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 1,76%.

Không nằm trong rổ hàng hóa để tính CPI, giá vàng so với tháng trước giảm 1,59%, so với tháng 12/2018 tăng 2,25%, so với cùng kỳ năm trước giảm 1,13%; chỉ số đô la Mỹ tăng 0,07% so với tháng trước, giảm 0,59% so với tháng 12/2018 và tăng 2,10% so với cùng kỳ năm trước.

4. Đầu tư và xây dựng

                Quý I/2019 lĩnh vực đầu tư xây dựng phát triển khá. Vốn đầu tư phát triển tháng 3/2019 thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 405,1 tỷ đồng, cộng dồn 3 tháng đầu năm ước đạt 1.290,9 tỷ đồng, giảm 1,03% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 548,4 tỷ đồng, giảm 2,87%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện 458,4 tỷ đồng, giảm 3,47% và cấp xã 284,1 tỷ đồng, tăng 7,27%.

                Ước tính tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn quý I/2019 đạt 13.927,4 tỷ đồng, tăng 15,63% (+1.883 tỷ đồng) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó vốn nhà nước ước đạt 2.707,6 tỷ đồng, tăng 4,44% (Trung ương quản lý tăng 6,06%, địa phương quản lý tăng 3,64%); vốn ngoài nhà nước 10.985,4 tỷ đồng, tăng 18,69%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 234,5 tỷ đồng, tăng 19,19%. Khi phân theo khoản mục đầu tư thì vốn đầu tư xây dựng cơ bản quý I/2019 ước đạt 12.248,3 tỷ đồng, chiếm 87,94% tổng vốn, tăng 8,10% so với cùng kỳ năm trước; vốn mua sắm tài sản cố định 784,2 tỷ đồng; vốn sửa chữa lớn, nâng cấp TSCĐ 443,4 tỷ đồng; bổ sung vốn lưu động 361,8 tỷ đồng.

                Một số công trình có vốn đầu tư lớn thực hiện trong kỳ như Tiểu dự án phát triển Thành phố Vinh; đường N5 KTT Đông Nam; Khôi phục vùng ngập lũ Nghệ An; Đường giao thông Châu Quang, Châu Cường, Quỳ Hợp; Đường giao thông 533 nối đường Hồ Chí Minh; Xây dựng kè chống sạt lở bờ sông Lam; Kè chống sạt lở sông Nam Cấm; Hạ tầng cụm công nghiệp Bồng Khê, Con Cuông; Khu Tái định cư Nghi Yên, Nghi Lộc; Công viên Thanh thiếu niên thuộc Quần thể lưu niệm Cố Tổng bí thư Lê Hồng Phong; Đường từ Trung tâm huyện Thanh Chương đi Khu tái định cư Thủy điện Bản Vẽ; Sửa chữa nâng cao an toàn đập WB8; Sửa chữa, nâng cấp hệ thống tưới Diễn Thọ, Diễn Lợi; Sửa chữa, nâng cấp hồ chứa nước Cửa Ông, Nam Đàn; Cầu tràn Đồng Hợp, Quỳ Hợp; Bảo tồn, tôn tạo Đền Quả Sơn; Trường THCS phường Quán Bàu; Nhà máy xi măng Tân Thắng; Công ty công nghệ xanh Nghĩa Đàn; Công ty may Minh Anh; Khu công nghiệp WHA Hemaraj1;…

                Trong kỳ Bộ Giao thông vận tải phối hợp với tỉnh Nghệ An đã khởi công cầu Cửa Hội bắc qua sông Lam. Cầu rộng 18,5 m dài 5,3 km có tổng mức đầu tư 950 tỷ đồng, dự kiến sẽ hoàn thành sau 18 tháng. Khánh thành Nhà máy nước tinh khiết và hoa quả Núi Tiên của Tập đoàn TH tại xã Nghĩa Sơn, huyện Nghĩa Đàn với tổng mức đầu tư 1.177 tỷ đồng; Khánh thành Tổng kho xăng dầu DKC của Công ty CP Thiên Minh Đức tại xã Nghi Thiết, huyện Nghi Lộc với tổng mức đầu tư 570 tỷ đồng.

Công tác xúc tiến đầu tư: Ngày 23/2/2019 tại Thị xã Cửa Lò, Ủy ban Nhân dân tỉnh Nghệ An phối hợp với Ngân hàng đầu tư phát triển Việt Nam tổ chức Hội nghị gặp mặt các nhà đầu tư xuân Kỷ Hợi 2019. Đây là lần thứ 11 liên tiếp Hội nghị được tổ chức kể từ năm 2009, với mục tiêu giới thiệu quảng bá nhằm thu hút đầu tư vào tỉnh Nghệ An, Hội nghị đã thu hút được sự quan tâm của đông đảo doanh nghiệp trong và ngoài nước. Tại Hội nghị lần này, tỉnh Nghệ An đã trao giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư cho 13 dự án và ký kết 18 biên bản ghi nhớ, hợp tác đầu tư vào Nghệ An với tổng số vốn đăng ký là 21.977 tỷ đồng.

                5. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp

 Trong năm 2018 đã cấp đăng ký thành lập mới cho 1.909 doanh nghiệp, tăng 7,43% so với cùng kỳ; tổng số vốn các doanh nghiệp đăng ký 9920,9 tỷ đồng, tăng 35,86% so với cùng kỳ, bình quân khoảng 5,58 tỷ đồng/doanh nghiệp. Theo kết quả rà soát doanh nghiệp tính đến 31/12/2018 trên địa bàn toàn tỉnh hiện có 19.769 doanh nghiệp đã đăng ký thành lập, trong đó 11.688 doanh nghiệp đang hoạt động; 705 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh; 288 doanh nghiệp ngừng hoạt động đang chờ giải thể, phá sản; số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động 544 doanh nghiệp.

Từ đầu năm đến ngày 15/3/2019, trên địa bàn tỉnh Nghệ An có 340 doanh nghiệp được cấp mới giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, bằng 96,3% so với cùng kỳ năm trước; tổng số vốn đăng ký 3.392,2 tỷ đồng, tăng 58,7%, bình quân khoảng 9,9 tỷ đồng/doanh nghiệp; đồng thời có 206 doanh nghiệp quay trở lại sản xuất kinh doanh; số doanh nghiệp giải thể 21 doanh nghiệp.

6. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

a, Sản xuất nông nghiệp

Quý I/2019 sản xuất nông nghiệp chủ yếu tập trung thu hoạch các loại cây trồng vụ Đông và đẩy nhanh tiến độ sản xuất vụ Xuân 2019.

Sản xuất vụ đông: Tổng diện tích gieo trồng cây vụ đông năm nay toàn tỉnh đạt 38.089 ha, tăng 2,46% (+915 ha) so với cùng kỳ năm trước. Vụ Đông được sản xuất trong điều kiện thời tiết thuận lợi, ít mưa to và không rét nên năng suất, sản lượng một số cây trồng chính đạt khá. Cụ thể như sau:

        Cây ngô: Diện tích gieo trồng đạt 18.767 ha, tăng 0,84% (+156 ha) so với vụ đông năm trước; năng suất ngô đông sơ bộ đạt 44,98 tạ/ha, tăng 1,79 tạ/ha. Do tăng cả diện tích và năng suất nên sản lượng sơ bộ đạt 84.421 tấn, tăng 5,03% (+4.040 tấn). Công ty TH giảm nhu cầu thu mua ngô thức ăn gia súc, nên một số địa phương đã chuyển sang trồng ngô hạt như huyện Diễn Châu 200 ha, Nghĩa Đàn 350 ha,…

Khoai lang: Diện tích gieo trồng đạt 1.712 ha, giảm 7,96% (-148 ha) so với cùng vụ năm ngoái. Diện tích khoai lang giảm do không mang lại giá trị kinh tế cao, chủ yếu là phục vụ cho chăn nuôi nhưng bà con nông dân chủ động chuyển sang trồng rau màu hàng hóa có hiệu quả kinh tế cao hơn. Các loại giống đem vào trồng vẫn là các giống mới vừa tăng năng suất, vừa tăng chất lượng như K4, Nhật đỏ, Nhật vàng… nên năng suất sơ bộ đạt 63,76 tạ/ha; sản lượng sơ bộ đạt 10.916 tấn, giảm 4,91% (-563 tấn) so với vụ đông năm ngoái.

Lạc: Diện tích lạc vụ đông gieo trỉa đạt 1.360 ha, tăng 7,33% (+93 ha) so với vụ Đông năm 2018. Lạc vụ đông năm nay chủ yếu được trồng trên diện tích đất không gieo trồng vụ thu mùa, phần lớn được sử dụng giống lạc L14, L23, L26, TB25, năng suất sơ bộ đạt 22,2 tạ/ha, sản lượng sơ bộ đạt 3.019 tấn, tăng 18,97% (+481 tấn) so với vụ đông năm ngoái.

 Cây rau, đậu, hoa cây cảnh: Diện tích gieo trồng đạt 12.504 ha, tăng 3,82% (+460 ha), trong đó rau các loại 12.264 ha, tăng 3,62% (+428 ha) so với vụ đông năm 2018, bà con nông dân tập trung gieo trồng phần lớn là các loại rau theo nhu cầu thị trường, chú trọng các loại rau cao cấp để tăng hiệu quả kinh  tế mở rộng diện tích rau an toàn, xây dựng thương hiệu các vùng rau an toàn. Sơ bộ năng suất đạt 140,71 tạ/ha; sản lượng ước đạt 172.568 tấn, tăng 3,93% (+6.529 tấn).

Cây gia vị, dược liệu hàng năm: diện tích đạt 436 ha, bằng 98,73% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cây gia vị 395 ha, cây dược liệu 41 ha.

Cây hàng năm khác: diện tích đạt 2.761 ha, chỉ bằng 93,81% so với cùng kỳ năm trước, nguyên nhân cây hàng năm khác giảm chủ yếu do cây ngô làm thức ăn gia súc giảm vì Công ty TH ngừng thu mua và bà con chuyển sang trồng ngô hạt.

Sản xuất vụ xuân: Vụ Xuân 2019 thời tiết tương đối thuận lợi nên diện tích tăng hơn cùng vụ năm trước. Tính đến thời điểm 10/3/2019 tổng diện tích cây trồng vụ Xuân ước đạt 168.558 ha, bằng 103,35% kế hoạch. Trong đó lúa gieo trồng đạt 92.281 ha, trong đó lúa lai 43.658 ha, lúa thuần 48.623 ha. Lúa Xuân được gieo cấy chủ yếu tại các huyện có điều kiện thâm canh và chủ động được nguồn nước như Diễn Châu, Yên Thành, Quỳnh Lưu, Đô Lương, Nghi Lộc, Nam Đàn, Thanh Chương, …

Ngoài ra các cây trồng khác cũng được bà con tích cực gieo trồng như cây ngô gieo trỉa ước đạt 16.545 ha, bằng 97,32% kế hoạch và giảm 3,22%; Cây khoai lang diện tích trồng 1.243 ha; Cây rau, đậu, hoa cây cảnh gieo trồng ước đạt 11.636 ha; Cây lạc gieo trỉa 11.767 ha; Cây sắn 10.092 ha.

Do bà con nông dân tuân thủ đúng lịch nông vụ, giảm gieo thẳng lúa nên cây lúa và các cây trồng khác đang phát triển tốt. Các ngành chức năng đã hướng dẫn cho bà con nông dân phun thuốc phòng trừ sâu bệnh, tăng cường bón thúc sớm, tăng lượng bón phân kaly, tập trung xử lý ngay những diện tích cây trồng bị nhiễm bệnh, nạo vét kênh mương, khơi thông dòng chảy, điều tiết nguồn nước hợp lý ngay từ đầu vụ.

Chăn nuôi: Chăn nuôi gia súc, gia cầm tiếp tục phát triển, tổng đàn trâu hiện nay ước đạt 271.740 con, giảm 0,81% (-2.230 con) so với cùng kỳ năm trước; Tổng đàn bò ước đạt 479.470 con, tăng 3,65% (+16.880 con), trong đó bò sữa 63.130 con, giảm 2% (-1.290 con); Tổng đàn lợn ước đạt 934.710 con, tăng 3,72% (+33.498 con); Tổng đàn gia cầm (gà, vịt, ngan, ngỗng) ước đạt 24.761 nghìn con, tăng 7,13% (+1.649 nghìn con), trong đó đàn gà ước đạt 20.725 nghìn con, tăng 8,77% (+1.671 nghìn con).

So với cùng kỳ năm trước tổng đàn trâu giảm do chương trình cơ giới hóa sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp ngày càng mở rộng thay cho sức kéo của đàn trâu; tổng đàn bò tăng (thịt bò trở thành thực phẩm ưa chuộng trong đời sống của người dân, hiệu quả kinh tế cao); Tổng đàn lợn tăng do giá thịt lợn hơi tăng lên và đứng ở mức cao trong thời gian dài (gần đây có dịch tả lợn Châu Phi giá thịt lợn hơi có giảm), người chăn nuôi có lãi nên đầu tư mở rộng đàn; tổng đàn gia cầm tăng (do nhu cầu tiêu dùng thịt gia cầm ngày càng cao, điều kiện chăn nuôi phù hợp với điều kiện kinh tế hộ gia đình). Tuy nhiên, bò sữa trên địa bàn giảm do Công ty TH Nghĩa Đàn chuyển một số lượng bò sữa về trang trại chăn nuôi của TH Lâm Đồng.

Trong quý I đã xảy ra dịch tả lợn Châu Phi ở Quỳnh Mỹ, Quỳnh Lưu, đã tiêu hủy 2 con lợn nái và 20 con lợn con. Các ngành chức năng đã thông báo rộng rãi trên hệ thống thôn tin, lập các chốt chặn ra vào và phân công trực 24/24 giờ, đồng thời rải bạt, rơm và rắc vôi bột phun ẩm dài 3,5-4m để các phương tiện qua lại được khử trùng tiêu độc. Chính quyền cũng cho phun khử trùng tiêu độc toàn bộ địa bàn xã Quỳnh Mỹ và các xã lân cận, hướng dẫn người chăn nuôi thực hiện các biện pháp kỹ thuật phòng chống dịch bệnh. Chi cục chăn nuôi và thú y đã cung cấp hóa chất, bảo hộ sử dụng một lần, máy phun có động cơ để huyện Quỳnh Lưu triển khai chống dịch.

b, Sản xuất lâm nghiệp

Diện tích trồng rừng tập trung quý I/2019 ước đạt 4.466 ha, tăng 0,2% (+9 ha) so với cùng kỳ năm trước; Khai thác gỗ các loại được 150.507 m3, tăng 1,37% (+2.036 m3), sản lượng gỗ khai thác tăng khá từ rừng trồng của các dự án, hộ dân sinh đã đến kỳ thu hoạch và làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến như ván ép, dăm gỗ, nguyên liệu giấy và nhu cầu xây dựng; khai thác 308.317 ste củi, tăng 599 ste…

Công tác bảo vệ rừng thường xuyên được quan tâm, tập trung bảo vệ tốt 951.165 ha rừng, tuy nhiên các vụ vi phạm luật bảo vệ rừng vẫn còn xảy ra. Từ đầu năm đến nay đã phát hiện và xử lý 140 vụ vi phạm lâm luật như vi phạm về khai thác gỗ và lâm sản 8 vụ; phá rừng 11 vụ; mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép 62 vụ; vi phạm về quản lý, bảo vệ động vật hoang dã 7 vụ;… các ngành chức năng đã tịch thu 212 m3 gỗ các loại, thu nộp ngân sách 640 triệu đồng.

c, Sản xuất thủy sản

Diện tích nuôi trồng thủy sản tháng 3 ước đạt 529 ha, đưa tổng diện tích 3 tháng đạt 16.453 ha, tăng 22 ha so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu diện tích cá ao và hồ đập thủy lợi. Hiện nay bà con ngư dân các huyện ven biển đang nạo vét, cải tạo, xử lý diện tích ao đầm nuôi tôm để chuẩn bị cho việc thả tôm vụ 1 năm 2019.

Do thời tiết thuận lợi và nhu cầu tiêu dùng thủy sản trong dịp Tết nguyên đán lớn, giá cả tăng nên thời gian ngư dân ra khơi bám ngư trường nhiều hơn, do vậy sản lượng thủy sản khai thác quý I/2019 ước đạt 30.666 tấn, tăng 10,63% (+2.946 tấn) so với cùng kỳ năm trước, cùng với bà con thu hoạch sản phẩm thủy sản nuôi trồng phục vụ Tết nên sản lượng thủy sản nuôi trồng quý I ước đạt 12.704 tấn, tăng 4,97% (+601 tấn). Tính chung cả khai thác và nuôi trồng sản lượng thủy sản quý I/2019 ước đạt 43.370 tấn, tăng 8,91% (+3.547 tấn).

Ngoài ra, trong quý ngành thủy sản đã tập trung chỉ đạo các đơn vị sản xuất giống chuẩn bị đủ giống đảm bảo chất lượng phục vụ kịp thời nhu cầu nuôi thả của nhân dân, trong quý đã sản xuất, cung cấp được 712 triệu con giống, trong đó cá 189 triệu con, tôm 468 triệu con và thủy sản khác 55 triệu con.

7. Sản xuất công nghiệp

Thành công của ngành công nghiệp Nghệ An trong năm 2018 đã tạo tiền đề cho năm 2019, tuy nhiên trên nền tảng ngành công nghiệp có quy mô lớn, không có nhiều sản phẩm mới, dự báo ngành công nghiệp 2019 sẽ gặp không ít khó khăn, thử thách. Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 3/2019 tăng 7,31% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó công nghiệp khai khoáng giảm 3,06%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7,54%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 8,62%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 3,84%. Nguyên nhân ngành khai khoáng giảm do tài nguyên, khoáng sản ngày càng cạn kiệt, thuê đất mỏ, thuế tài nguyên tăng, khai thác gặp nhiều khó khăn.

                Một số sản phẩm chủ yếu trong tháng có mức tăng khá so với cùng kỳ năm trước như bia đóng chai 5,82 triệu lít, tăng 21,03%; bia đóng lon 7,19 triệu lít, tăng 19,54%; quần áo không dệt kim 548,7 nghìn cái, tăng 13,98%; bao bì 3,79 triệu chiếc, tăng 37,21%; sản phẩm in 579,7 triệu trang, tăng 22,77%; phân NPK 2.607,6 tấn, tăng 90,91%; xi măng 521 nghìn tấn, tăng 48,6%; thép cán nóng 580,4 tấn, tăng 15,56%; cửa bằng sắt thép 127,2 nghìn m2, tăng 20,42%; tủ gỗ 4.390 chiếc, tăng 17,95%. Tuy nhiên trong tháng có nhiều sản phẩm chủ yếu giảm sút như đá xây dựng giảm 15,7%; sữa chua giảm 7,65%; sợi giảm 19,35%; bê tông tươi giảm 13,4%; ống thép hoa sen giảm 9,91%; tôn Hoa sen giảm 10,56%;…

Tính chung quý I năm 2019 chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 7,51% so với cùng kỳ năm trước, trong đó công nghiệp khai khoáng giảm 3,63%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7,97% (sản xuất và chế biến thực phẩm tăng 8,90%, sản xuất đồ uống tăng 20,56%, sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại 29,26%); công nghiệp sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 7,70%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,80%. Chỉ số sản xuất công nghiệp 3 tháng đầu năm tăng ở mức thấp (chưa được một nửa so với kịch bản tăng trưởng 15,5%), nguyên nhân trong kỳ không có sản phẩm mới có quy mô lớn để đẩy nhanh tốc độ phát triển sản xuất công nghiệp, mặt khác các sản phẩm chủ lực như sữa, đường, bia, tôn, thủy điện đã khai thác tối đa công suất.

Ba tháng đầu năm một số sản phẩm chủ yếu có mức tăng khá so với cùng kỳ năm trước như sữa tươi 54 triệu lít, tăng 12,29%; sữa chua 7.407,8 tấn, tăng 12,39%; thức ăn gia súc 32,4 nghìn tấn, tăng 20,69%; bia đóng chai 14,54 triệu lít, tăng 57,87%; quần, áo không dệt kim 1.545,6 nghìn cái, tăng 16,07%; bao bì 13,03 triệu chiếc, tăng 77,46%; sản phẩm in 1.681 triệu trang, tăng 24,83%; ống nhựa Tiền phong 3.669 tấn, tăng 23,95%; xi măng 1.279,8 nghìn tấn, tăng 47,83%; cửa bằng sắt thép 347 nghìn m2, tăng 13,15 %; … Tuy nhiên trong kỳ có nhiều sản phẩm chủ yếu giảm sút như đá xây dựng giảm 16,73%; đường kính giảm 2,69%; sợi giảm 26,06%; vỏ bào, dăm gỗ giảm 1,46%; phân NPK giảm 32,69%; bê tông tươi giảm 18,04%; ống thép Hoa sen giảm 22,25%; Tôn Hoa sen giảm 15,54%;…

                8. Thương mại, dịch vụ

Tổng mức bán lẻ hàng hóa tháng 3/2019 theo giá hiện hành ước đạt 4.982,7 tỷ đồng, tăng 14,8% so với cùng tháng năm trước. Tính chung 3 tháng đầu năm 2019 tổng mức bản lẻ hàng hóa ước đạt 15.168,9 tỷ đồng, tăng 12,57% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó khu vực kinh tế nhà nước ước đạt 539,4 tỷ đồng, giảm 0,77%; khu vực kinh tế cá thể 8.425,1 tỷ đồng, tăng 12,49%; khu vực kinh tế tư nhân 6.088,7 tỷ đồng, tăng 14,63%; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 106,6 tỷ đồng. Chia theo nhóm hàng bán lẻ thì nhóm lương thực, thực phẩm chiếm tỷ trọng lớn nhất với doanh thu trong kỳ ước đạt 4.938,1 tỷ đồng (chiếm 32,55% tổng số), tăng 13,33% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp vào tốc độ tăng chung 4,31 điểm %; nhóm đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình 1.963,1 tỷ đồng, tăng 11,96%; nhóm gỗ và vật liệu xây dựng 997,4 tỷ đồng, tăng 6,69%; ô tô các loại 2.247,5 tỷ đồng, tăng 8,07%; phương tiện đi lại (trừ ô tô) 1.103,1 tỷ đồng, tăng 10,92%; xăng dầu 1.381,8 tỷ đồng, tăng 23,15%;...

Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tháng 3/2019 ước đạt 724,6 tỷ đồng, tăng 13,23% so với cùng kỳ năm trước. Cộng dồn 3 tháng doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước đạt 2.101,9 tỷ đồng, tăng 12,89% so với cùng kỳ năm trước; trong đó dịch vụ lưu trú phục vụ 1.348 nghìn lượt khách, tăng 12,7% so với cùng kỳ năm trước (982,7 nghìn lượt khách ngủ qua đêm) với doanh thu lưu trú 305,8 tỷ đồng, tăng 13,26%; doanh thu dịch vụ ăn uống 1.756,8 tỷ đồng, tăng 12,88%; doanh thu dịch vụ du lịch lữ hành 39,3 tỷ đồng, tăng 10,63%.

Doanh thu hoạt động dịch vụ khác (trừ dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành) tháng 3/2019 ước đạt 485,2 tỷ đồng, tăng 9,34% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý I/2019 ước đạt 1.465,9 tỷ đồng, tăng 10,27%; trong đó kinh doanh bất động sản 539,1 tỷ đồng, tăng 4,62%; dịch vụ hành chính 248,3 tỷ đồng, tăng 7,37%; dịch vụ y tế 247,8 tỷ đồng, tăng 18,4% do điều chỉnh giá dịch vụ Y tế theo thông tư 39/2018/TT-BYT; dịch vụ vui chơi giải trí 117,4 tỷ đồng, tăng 19,17%…

9. Vận tải

Nhìn chung hoạt động kinh doanh vận tải quý I đã đáp ứng tốt nhu cầu sản xuất, đời sống và đi lại của dân cư nhất là trong dịp Tết nguyên đán Kỷ Hợi, công tác kiểm tra, giám sát các hoạt động vận tải thường xuyên được duy trì nên đã hạn chế đến mức thấp nhất các hiện tượng lèn khách, ép giá, bảo đảm giao thông thông suốt.

Vận chuyển hành khách tháng 3/2019 ước đạt 8.047,6 nghìn lượt khách và 654,7 triệu lượt khách.km. So với cùng tháng năm trước hành khách vận chuyển tăng 13,04% và hành khách luân chuyển tăng 13,3%. Tính chung quý I/2019 khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 24,17 triệu lượt khách, tăng 11,49% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng hành khách luân chuyển 1.965,7 triệu lượt khách.km, tăng 11,78%.

Vận tải hàng hóa tháng 3/2019 ước đạt 6.708,1 nghìn tấn và 279,1 triệu tấn.km. So với tháng 3/2018 khối lượng vận chuyển hàng hóa tăng 12,47%, khối lượng luân chuyển hàng hóa tăng 10,75%. Tính chung 3 tháng đầu năm khối lượng vận chuyển hàng hóa ước đạt 21,07 triệu tấn, tăng 11,38% với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển hàng hóa 880 triệu tấn.km, tăng 8,31%. Khối lượng luân chuyển hàng hóa quý này tăng thấp hơn khối lượng vận chuyển chủ yếu do khối lượng luân chuyển đường biển đạt thấp (chỉ tăng 2,79%).

Doanh thu vận tải, bốc xếp quý I ước đạt 2.460,9 tỷ đồng, tăng 10,28% so với cùng kỳ năm trước, trong đó doanh thu vận tải hàng hóa 1.531,9 tỷ đồng, tăng 7,32%; doanh thu vận tải hành khách 603,7 tỷ đồng, tăng 17,4% và doanh thu bốc xếp dịch vụ vận tải 325,3 tỷ đồng, tăng 12,26%.            

B. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI

1. Lao động, việc làm, đời sống dân cư

Dân số tỉnh Nghệ An có 3.157 nghìn người; trong đó lực lượng lao động có hơn 1,9 triệu người đứng thứ 4 cả nước, hàng năm bổ sung khoảng 40 nghìn người và đang ở trong thời kỳ “dân số vàng”, đây là lợi thế về nguồn lao động dồi dào nhưng cũng là thách thức khi giải quyết việc làm cho người lao động.

Chất lượng nguồn lao động thấp, tỷ lệ lao động qua đào tạo chỉ chiếm 20,6% và chủ yếu tập trung ở thành thị (thành thị tỷ lệ lao động qua đào tạo chiếm 44,1%). Sự chuyển dịch cơ cấu lao động đang còn chậm; lao động trong ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản đang chiếm tỷ lệ lớn (49,13%), lao động công nghiệp, xây dựng và dịch vụ tương ứng là 23,77% và 27,1%.

Công tác giải quyết việc làm, chế độ cho người lao động đạt kết quả khá, ước đến cuối quý I toàn tỉnh đã giải quyết việc làm cho 10.875 lao động, trong đó xuất khẩu lao động 3.400 người; giải quyết chế độ bảo hiểm thất nghiệp cho 1.595 lao động với số tiền chi trả 20,82 tỷ đồng và đào tạo nghề cho thanh niên dân tộc thiểu số, người tàn tật, người sau cai nghiện ma túy, gia đình chính sách.

Quý I năm 2019 kinh tế - xã hội tỉnh nhà mặc dù vẫn còn gặp nhiều khó khăn nhưng vẫn có bước phát triển và giá cả của hầu hết các loại hàng hóa, dịch vụ tăng vừa phải, nên nhìn chung đời sống của các tầng lớp dân cư được cải thiện hơn tuy vẫn còn gặp nhiều khó khăn, nhất là những người làm công ăn lương và những người thu nhập thấp.

Trong khu vực Nhà nước đời sống của cán bộ công nhân viên chức có được cải thiện hơn do cán bộ, công nhân viên đương chức đều được trả lương, thưởng đầy đủ, đúng kỳ, trong dịp Tết nguyên đán hầu hết các đơn vị đã phát thưởng cho cán bộ, công chức từ 1 đến 2 tháng lương. Các đơn vị sản xuất kinh doanh tuy mức lương tối thiểu được điều chỉnh từ 01/01/2019 nhưng thu nhập của công nhân tùy thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp, dịp Tết nguyên đán các doanh nghiệp đã phát thưởng cho người lao động từ 4,5-5,5 triệu đồng/người, cao nhất là 80 triệu, thấp nhất là 150 nghìn đồng.

Đối với hộ sản xuất nông nghiệp do thời tiết năm nay thuận lợi nên sản xuất rau, màu vụ Đông năng suất, sản lượng của nhiều loại cây trồng chủ yếu đều tăng hơn so với vụ Đông năm trước, do đó đời sống của bà con nông dân tuy vẫn còn gặp nhiều khó khăn nhưng vẫn được cải thiện hơn, mặt khác do biết tích lũy nên tính đến thời điểm 10-3-2019 trên địa bàn tỉnh không còn hộ đói.

Để mọi người dân đều có cái Tết vui tươi, đầy đủ Ủy ban Nhân dân tỉnh đã trích ngân sách hơn 48 tỷ đồng để chi cho việc thăm hỏi, tặng quà người có công, gia đình chính sách và các đối tượng bảo trợ xã hội, trong đó quà của Chủ tịch nước là 19,4 tỷ đồng, quà ngân sách tỉnh 8,6 tỷ đồng, quà ngân sách huyện 20 tỷ đồng. Ngoài ra các tổ chức, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp và cá nhân đã ủng hộ chương trình “Tết vì người nghèo” với số tiền 66,185 tỷ đồng, Chính phủ hỗ trợ 1.264,86 tấn gạo cứu đói cho các hộ nghèo đói…

Tiếp tục thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo và khắc phục khó khăn vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn như chương trình 135 giai đoạn 2016-2020 với 3 hợp phần; hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt theo quyết định 755/QĐ-TTg; hỗ trợ vay vốn phát triển sản xuất đối với hộ dân tộc thiểu số theo quyết định 54/QĐ-TTg; hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2017-2020 theo quyết định 2085/QĐ-TTg; … Ngân hàng chính sách xã hội từ đầu năm đến 10/3 đã giải ngân cho 3.731 hộ nghèo, hộ cận nghèo vay vốn với số tiền 161,28 tỷ đồng, cho vay 3,63 tỷ đồng để giải quyết việc làm cho 101 người; cho 189 học sinh, sinh viên vay 0,55 tỷ đồng; cho vay sản xuất kinh doanh 36,29 tỷ đồng; cho vay chương trình nước sạch, vệ sinh môi trường nông thôn 43,68 tỷ đồng…

                2. Giáo dục

Tích cực thực hiện Nghị quyết 29-QN/TW về đổi mới toàn diện giáo dục đào tạo. Nhìn chung chất lượng giáo dục có chuyển biến, việc giáo dục nhân cách, đạo đức cho học sinh tiếp tục được quan tâm; triển khai tích cực phổ cập giáo dục mầm non, trẻ mẫu giáo 5 tuổi; củng cố vững chắc chất lượng phổ cập giáo dục phổ thông; việc đánh giá chất lượng giáo dục ngày càng nề nếp.

Kết quả thi học sinh giỏi quốc gia năm 2019 Nghệ An có 108 học sinh đạt giải (Trường THPT Chuyên Phan Bội Châu 90 giải, Trường THPT chuyên Đại học Vinh 18 giải), đứng thứ 3 cả nước, trong đó có 5 giải nhất, 40 giải nhì, 35 giải ba và 28 giải khuyến khích. Đến nay, toàn tỉnh có 21/21 đơn vị cấp huyện đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi; 19/21 đơn vị cấp huyện đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học mức độ 3, 2 đơn vị đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học mức độ 2; 1/21 đơn vị cấp huyện đạt chuẩn phổ cập giáo dục THCS mức độ 3, 14/21 đơn vị cấp huyện đạt chuẩn phổ cập giáo dục THCS mức độ 2, 6/21 đơn vị cấp huyện đạt chuẩn phổ cập giáo dục THCS mức độ 1.

Tổ chức thành công Hội thi giáo viên dạy giỏi cấp tiểu học toàn tỉnh năm học 2018- 2019, hội thi có quy mô lớn, đã đổi mới hình thức kiểm tra năng lực và chấm thi thực hành. Tổ chức thành công Cuộc thi Khoa học Kỹ thuật cấp tỉnh học sinh trung học năm học 2018-2019; tham gia Cuộc thi KHKT cấp Quốc gia học sinh trung học năm học 2018-2019, có 6/9 dự án tham dự đạt giải (01 giải nhất, 01 giải nhì, 04 giải tư), xếp thứ 6/34 đơn vị Khu vực phía Bắc.

3. Y tế

Trên địa bàn tỉnh tình hình dịch bệnh ổn định, không có dịch lớn và vừa xảy ra, các yếu tố dịch được giám sát chặt chẽ. Ngành y tế đã tập trung chỉ đạo công tác phòng chống, giám sát chặt chẽ các loại dịch bệnh. Thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia về y tế đảm bảo tiến độ. Không ngừng nâng cao chất lượng khám chữa bệnh và nâng cao y đức trong các cơ sở khám chữa bệnh, đảm bảo công tác khám chữa bệnh. Công tác vệ sinh an toàn thực thực phẩm được chú trọng, trong kỳ các ngành chức năng đã thanh kiểm tra và kiên quyết xử phạt đối với những cơ sở vi phạm.

Tuy nhiên trong kỳ các bệnh thông thường vẫn xảy ra như Tiêu chảy 2.213 ca; Sốt rét có 15 ca; sốt xuất huyết 1 ca; ngộ độc thực phẩm 1 vụ. So với cùng kỳ năm trước tiêu chảy giảm 3,43% (-55 ca), sốt rét tăng 1 ca. Nguyên nhân chính gây ra các vụ tiêu chảy và ngộ độc là do thời tiết, uống bia rượu nhiều, ăn các thức ăn chế biến có ướp hoá chất, rau hoa quả phun thuốc sâu và thuốc kích thích.

                Tình hình nhiễm HIV/AIDS: Đến ngày 31/01/2019 số người bị nhiễm HIV được phát hiện trên toàn tỉnh là 12.005 người, trong đó có 9.766 người trong tỉnh. Căn bệnh HIV đã xảy ra ở 449/480 xã/phường/thị trấn của 21 huyện/thành phố/thị xã. Trong tổng số người nhiễm HIV đã có 7.036 người chuyển sang bệnh AIDS và đã tử vong 4.248 người.

                4. Văn hóa, thể thao

Quí I/2019 công tác văn hóa thông tin chủ yếu tập trung tuyên truyền, trang trí cổ động và tổ chức các hoạt động văn hóa phục vụ nhiệm vụ chính trị, các ngày lễ lớn của dân tộc như:  Kỷ niệm 89 năm ngày thành lập Đảng; 64 năm ngày thầy thuốc Việt Nam 27/2; 30 năm ngày biên phòng toàn dân; Ngày thành lập đoàn TNCS HCM 26/3; 109 năm ngày Quốc tế Phụ nữ… Tuyên truyền trong nhân dân nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị.

Trong quý I khắp nơi trong toàn tỉnh đã tổ chức các lễ hội như: Lễ hội Vua Mai ở huyện Nam Đàn, Lễ hội đền Vạn Lộc ở Cửa Lò, lễ hội Hang Bua ở Quỳ Châu, lễ hội Mường Ham ở Quỳ Hợp, lễ hội đền Quả Sơn ở Đô Lương, lễ hội đền Vạn – Cửa Rào, lễ hội đền Cờn ở Quỳnh Lưu, lễ hội Đền Nguyễn Xí ở Nghi Lộc, Lễ hội Làng Vạc ở Thị xã Thái Hòa,... Các lễ hội trên được tổ chức trang nghiêm, thành kính và các chương trình ca nhạc đặc sắc cùng với tổ chức thi đấu các môn thể dục thể thao như bóng đá, bóng chuyền, đua thuyền, ném tiêu, cờ thẻ, chọi gà, đu tiên, đẩy gậy, đốt lửa trại...

Về thể dục thể thao tiếp tục thực hiện phong trào “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại” gắn với “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, kỷ niệm 73 năm  ngày thể thao Việt Nam nhiều hoạt động thể dục thể thao quần chúng từ tỉnh đến cơ sở phát triển mạnh mẽ cả quy mô và chất lượng như: Tổ chức các giải thể thao truyền thống trong các lễ hội, trong các ngành,.. Các giải thi đấu trên đã tạo nên không khí vui tươi, lành mạnh, sôi động cuốn hút hàng chục nghìn người tham gia, tạo môi trường tốt để nhân dân vui Tết, đón Xuân vui tươi tiết kiệm và phấn khởi, được dư luận xã hội đánh giá cao. Triển khai xây dựng mô hình “Trẻ em toàn xã biết bơi” hoặc “Học sinh toàn trường biết bơi” trên địa bàn tỉnh theo kế hoạch bơi an toàn, phòng chống đuối nước. Phối hợp tổ chức giải đua xe đạp Cúp truyền hình TP Hồ Chí Minh; tổ chức giải thể thao bóng chuyền bãi biển khai trương mùa du lịch biển năm 2019 tại TX Cửa Lò. Thể thao thành tích cao: Đội 1 CLB bóng đá Sông Lam Nghệ An thi đấu 3 trận, thắng 2 trận, hòa 1 trận, được 7 điểm, đang đứng thứ 3 tại Giải chuyên nghiệp quốc gia năm 2019.

5. Trật tự, an toàn xã hội:

Từ 10/02/2019 đến 10/3/2019 trên địa bàn tỉnh xảy ra 136 vụ, bắt giữ 143 đối tượng phạm pháp kinh tế chủ yếu là buôn bán hàng cấm, hàng nhập lậu. Cộng dồn 3 tháng đầu năm đã xảy ra 466 vụ với 528 đối tượng phạm pháp kinh tế, tăng 1,75% số vụ nhưng giảm 8,17% đối tượng so với cùng kỳ năm trước.

Phạm pháp hình sự xảy ra 110 vụ với 202 đối tượng, tội phạm chủ yếu là trộm cắp, cướp giật tài sản công dân giá trị thiệt hại khoảng 300 triệu đồng và nhiều tài sản khác. Tính chung 3 tháng đầu năm xảy ra 349 vụ với 561 đối tượng phạm pháp hình sự, giảm 3,06% số vụ và giảm 0,71% số đối tượng so với cùng kỳ năm trước.

Buôn bán, vận chuyển, tàng trữ ma tuý xảy ra 57 vụ 61 đối tượng thu giữ 8 bánh heroin, 8,17 kg ma túy đá, 3,9 gam thuốc lắc, 7.850 viên ma túy tổng hợp. Trong tháng có 32 đối tượng sử dụng ma túy bị phát hiện. Cộng dồn 3 tháng đầu năm số vụ buôn bán, vận chuyển ma túy 237 vụ bị phát hiện và bắt giữ 255 người, số đối tượng sử dụng ma túy bị phát hiện 141 người. So với cùng kỳ năm trước buôn bán, vận chuyển ma túy tăng 16,18% số vụ và tăng 8,97% số đối tượng.

 Trong tháng xẩy ra 38 vụ tai nạn giao thông, làm chết 9 người, bị thương 33 người, ước giá trị thiệt hại 1.432 triệu đồng. Như vậy quý I đã xẩy ra 112 vụ tai nạn giao thông, làm chết 46 người, bị thương 90 người, ước giá trị thiệt hại 3.260 triệu đồng. So với cùng quý năm trước tai nạn giao thông giảm cả 3 tiêu chí: số vụ tai nạn giao thông giảm 8,94% (-11 vụ), số người chết giảm 19,3%     (-11 người), số người bị thương giảm 21,74% (-25 người).

Trong tháng phát hiện 30 vụ đánh bạc thu giữ 132 triệu đồng và nhiều tài sản khác. Tính chung 3 tháng phát hiện 48 vụ đánh bạc thu giữ 539 triệu đồng và nhiều tài sản khác.

Ngoài ra trong quý đã xảy ra 9 vụ cháy, ước giá trị thiệt hại khoảng 15,94 tỷ đồng; phát hiện 76 vụ gây ô nhiễm môi trường, chủ yếu không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, kinh doanh vận chuyển hàng hóa không rõ nguồn gốc. Các ngành chức năng đã kiểm tra và xử phạt hành chính với số tiền phạt 71 triệu đồng.

Khái quát lại: Quý 1 năm 2019 nền kinh tế - xã hội tỉnh Nghệ An còn gặp nhiều khó khăn như kinh tế phát triển chưa bền vững, thị trường tiêu thụ sản phẩm chưa được mở rộng, năng suất, hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp, dịch bệnh xảy ra trên cây trồng, vật nuôi. Nhưng dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, sự điều hành tích cực của Ủy ban nhân dân tỉnh cùng với sự cố gắng của cộng đồng doanh nghiệp và toàn thể nhân dân nền kinh tế - xã hội tỉnh nhà vẫn ổn định và phát triển: tốc độ tăng trưởng kinh tế ước đạt 7,00%, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 7,51%, tổng mức bán lẻ hàng hóa tăng 12,57%, thu ngân sách tăng 14,52%, chỉ số giá tiêu dùng bình quân tăng 1,93%, văn hóa xã hội có chuyển biến tích cực, trật tự an toàn xã hội được giữ vững.

Để thực hiện thắng lợi kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2019, với mục tiêu là Cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư, nâng cao chất lượng tăng trưởng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế; đảm bảo các mục tiêu an sinh và phúc lợi xã hội, cải thiện đời sống nhân dân; tăng cường quốc phòng, an ninh và giữ vững trật tự, an toàn xã hội; đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu quả, hiệu lực bộ máy nhà nước; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; tăng cường công tác phòng, chống tham nhũng các ngành, các cấp cần tập trung vào một số giải pháp chủ yếu sau:

Một là, tiếp tục thực hiện có hiệu quả cơ cấu lại kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng đồng bộ, toàn diện, thực chất hơn. Tập trung khai thác, phát huy tiềm năng lợi thế để phát triển nhanh, bền vững; nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế. Bám sát các chủ trương của Quốc hội, Chính phủ về điều hành kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; dựa theo kịch bản tăng trưởng năm 2019 để tập trung chỉ đạo ngay từ những tháng đầu năm.

Hai là, thực hiện đồng bộ các giải pháp cơ cấu lại nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới. Chú trọng phát triển nông nghiệp công nghệ cao, chế biến nông sản, liên kết chuỗi giá trị, bảo đảm đầu ra cho nông sản, tăng thu nhập cho nông dân. Tạo điều kiện để doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn. Đẩy nhanh tiến độ Chương trình xây dựng nông thôn mới, triển khai thực hiện có hiệu quả Đề án xây dựng nông thôn mới trên địa bàn 27 xã khu vực biên giới của tỉnh.

Ba là, tập trung chỉ đạo quyết liệt phát triển công nghiệp. Cơ cấu lại ngành công nghiệp theo hướng phát triển những dự án sử dụng công nghệ mới, tiên tiến, đảm bảo về môi trường. Phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghiệp phục vụ nông nghiệp, công nghiệp hỗ trợ. Phát huy tối đa vai trò các ngành, sản phẩm công nghiệp chủ lực, công nghiệp có lợi thế cạnh tranh của tỉnh đã xác định. Tiếp tục triển khai hiệu quả các dự án công nghiệp. Nâng cao hơn nữa vai trò của các ngành dịch vụ đối với phát triển kinh tế. Tập trung phát triển các ngành dịch vụ ứng dụng công nghệ hiện đại, giá trị gia tăng cao như bưu chính, viễn thông, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm... Đa dạng hóa sản phẩm, chú trọng quảng bá, xây dựng thương hiệu du lịch; nâng cao chất lượng, hiệu quả các dịch vụ du lịch, xây dựng môi trường du lịch thân thiện, văn minh, bảo đảm an ninh, an toàn cho du khách để du lịch thật sự trở thành ngành kinh tế quan trọng của tỉnh.

Bốn là, cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh. Thúc đẩy đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp, phát triển doanh nghiệp. Đẩy mạnh hoạt động đối ngoại, tiếp tục đổi mới hình thức, phương pháp, nâng cao hiệu quả công tác xúc tiến, thu hút đầu tư. Chủ động tiếp cận các tập đoàn kinh tế, các nhà đầu tư chiến lược. Tiếp tục kiểm tra, giám sát việc thực hiện các dự án; xử lý nghiêm túc các dự án chậm triển khai.

Năm là, chăm lo, phát triển văn hoá, xã hội, nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân. Cải cách chính sách bảo hiểm xã hội, tiền lương, giáo dục - đào tạo, y tế, dân số. Tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo, thực hiện có hiệu quả chính sách hỗ trợ phát triển giáo dục - đào tạo cho vùng khó khăn, đồng bào dân tộc thiểu số và đối tượng chính sách. Tiếp tục làm tốt công tác phòng, chống dịch bệnh, nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh. Quản lý chặt chẽ thuốc chữa bệnh, hành nghề y dược tư nhân; bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm. Chăm lo đời sống người có công với cách mạng; giải quyết việc làm, giảm nghèo bền vững. Thực hiện tốt Cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới và đô thị văn minh. Phát triển phong trào thể dục, thể thao trong mọi tầng lớp nhân dân và thể thao thành tích cao của tỉnh.

Sáu là, tiếp tục cải cách hành chính, trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính; siết chặt kỷ luật, kỷ cương; tăng cường công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo; quyết liệt phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Thực hiện nghiêm các nghị quyết của Trung ương, Bộ Chính trị về đổi mới, sắp xếp lại bộ máy, tinh giản biên chế, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Siết chặt kỷ luật hành chính, tăng cường thanh tra công vụ.

Bảy là, xây dựng nền quốc phòng vững mạnh. Giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Chủ động phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn kịp thời, hiệu quả các âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Thực hiện đồng bộ các giải pháp bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, tích cực đấu tranh phòng chống các loại tội phạm và tệ nạn xã hội; thực hiện các giải pháp bảo đảm an toàn giao thông, phòng chống cháy nổ, tín dụng đen./.

                                                      Nguồn: Thái Bá Minh - Cục Thống kê Nghệ An

 |  Đầu trang
 
<<   <  1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  ...  >  >>
 
 
 
Thông báo
Skip portletPortlet Menu
 
 
 
Thư viện ảnh
Skip portletPortlet Menu