Giới thiệu chung
Skip portletPortlet Menu
 
Tin tức - Sự kiện
Skip portletPortlet Menu
 
Lĩnh vực chuyên môn
Skip portletPortlet Menu
 
 
Liên kết website
Skip portletPortlet Menu
 
 
 
TÌNH HÌNH KINH TẾ – XÃ HỘI QUÝ III VÀ 9 THÁNG ĐẦU NĂM 2019 TỈNH NGHỆ AN (30/09/2019 07:57 AM)

Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Nghệ An 9 tháng đầu năm 2019, diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới có xu hướng tăng trưởng chậm lại và thương mại toàn cầu sụt giảm. Trong nước, kinh tế 9 tháng đầu năm tiếp tục chuyển biến tích cực, kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát ở mức thấp, môi trường đầu tư kinh doanh tiếp tục được cải thiện. Bên cạnh đó cũng đối mặt không ít khó khăn, thách thức với tình hình thời tiết diễn biến phức tạp ảnh hưởng đến năng suất và sản lượng cây trồng; ngành chăn nuôi gặp nhiều khó khăn với dịch tả lợn châu Phi lây lan trên diện rộng; một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực tăng trưởng chậm lại; giải ngân vốn đầu tư công thấp.

Trong Quý III và 9 tháng đầu năm 2019 tình hình kinh tế - xã hội tỉnh nhà vẫn còn gặp nhiều khó khăn như ngành công nghiệp không có thêm sản phẩm mới, nhiều sản phẩm chủ lực đã khai thác tối đa công suất, bệnh dịch tả lợn châu Phi diễn ra trên diện rộng… Trước tình hình đó lãnh đạo Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh đã đề ra những nhiệm vụ, giải pháp, đồng thời ban hành các chương trình hành động, văn bản chỉ đạo cụ thể, tăng cường đổi mới sáng tạo, quyết liệt hành động trong thực hiện nhiệm vụ tạo chuyển biến mạnh mẽ, đồng bộ trên tất cả các lĩnh vực, đưa kinh tế - xã hội tỉnh nhà tiếp tục ổn định và đạt mức tăng trưởng khá so với cùng kỳ. Trên cơ sở rà soát kết quả thực hiện 8 tháng, Cục thống kê Nghệ An ước tính tháng 9, tổng hợp chung kết quả thực hiện các chỉ tiêu kinh tế xã hội chủ yếu 9 tháng đầu năm 2019 như sau:

A.  TÌNH HÌNH KINH TẾ

1. Tăng trưởng kinh tế

Tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP)

(Theo giá so sánh 2010)

 

9 tháng/2019       (Tỷ đồng)

So sánh với cùng kỳ năm trước (%)

Mức đóng góp vào tăng trưởng chung (%)

Tổng số

62.936,8

107,68

7,68

- Nông, lâm nghiệp, thủy sản

13.525,1

104,84

1,07

- Công nghiệp – xây dựng

19.910,8

109,91

3,07

- Dịch vụ

26.460,6

107,50

3,16

- Thuế sản phẩm – trợ cấp sp

3.040,3

107,84

0,38

Tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP) quý III năm 2019 theo giá so sánh 2010 ước đạt 22.285 tỷ đồng, tăng 10,93% so với cùng kỳ năm 2018. Tính chung 9 tháng/2019 tổng sản phẩm trong tỉnh theo giá so sánh 2010 ước đạt 62.936,8 tỷ đồng, tăng 7,68%, trong đó khu vực Nông, lâm nghiệp, thủy sản ước đạt 13.525 tỷ đồng, tăng 4,84%; khu vực Công nghiệp - xây dựng ước đạt 19.911 tỷ đồng, tăng 9,91% (trong đó công nghiệp tăng 8,5%); khu vực dịch vụ ước đạt 26.461 tỷ đồng, tăng 7,5% và thuế sản phẩm ước đạt 3.040 tỷ đồng tăng 7,84%.

Tốc độ tăng trưởng 9 tháng đầu năm 2019 tăng thấp hơn 9 tháng đầu năm 2018, nhưng cao hơn tốc độ tăng trưởng 9 tháng năm 2017, 9 tháng năm 2016, và 9 tháng năm 2015.

Trong 7,68% mức tăng trưởng chung, khu vực Nông, lâm nghiệp, thủy sản đã đóng góp 1,07 điểm %; khu vực Công nghiệp – xây dựng đóng góp 3,07 điểm %; khu vực dịch vụ đóng góp 3,16 điểm %; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm đóng góp 0,38 điểm %.

          Khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản tăng khá, giá trị tăng thêm tăng 4,84% so cùng kỳ năm 2018/kế hoạch cả năm 5,0%. Trong đó: ngành nông nghiệp chiếm tỷ trọng 75,46% của khu vực I, tăng 3,54% do sản phẩm trồng trọt 9 tháng tăng khá chủ yếu như cây Ngô 188.549 tấn, tăng 7,52%; Khoai lang 23.238 tấn, tăng 7,87%; Đậu tương 390 tấn, tăng 143%; Lạc 37.717 tấn, tăng 5,39%; Rau các loại 448.962 tấn, tăng 16,6%; Đỗ các loại 3.118 tấn, tăng 12,2%; … bên cạnh đó ngành chăn nuôi vẫn phát triển khá, sản lượng xuất chuồng tăng nên đã đóng góp đáng kể vào mức tăng của khu vực I. Còn lại 2 ngành lâm nghiệp và thủy sản tuy tỷ trọng ít hơn cũng có mức tăng khá, trong đó ngành lâm nghiệp tăng 7,0% do trong kỳ sản lượng lâm sản khai thác tăng so với cùng kỳ năm trước và ngành thủy sản tăng 11,85% do sản lượng nuôi trồng và đánh bắt tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước.

          Khu vực Công nghiệp - xây dựng, giá trị tăng thêm tăng 9,91% so cùng kỳ năm 2018, thấp hơn mức tăng của 9 tháng năm 2018 (9 tháng năm 2018 tăng 12,4%) và đạt thấp so với kế hoạch 2019 là 15%; trong đó ngành công nghiệp không có sản phẩm mới và một số sản phẩm chủ lực đã khai thác tối đa công suất, 1 số sản phẩm sản xuất theo kế hoạch của tập đoàn nên sản lượng giảm như tôn Hoa sen, điện sản xuất nên ngành công nghiệp chỉ tăng 8,5%, thấp thua so với kế hoạch đề ra là 18%.

Ngành xây dựng phát triển nhanh với mức tăng 12,22%/kế hoạch 10% (9 tahnsg 2018 tăng 8,9%) do trong năm có 1 số công trình lớn như MDF của Thanh Thành Đạt, Dự án WHA, Xi măng Tân Thắng, xi măng Tân Thắng, cầu Cửa Hội, Đại lộ Vinh - Cửa Lò…

Khu vực dịch vụ tiếp tục phát triển do doanh thu các ngành dịch vụ tăng khá, tuy nhiên các ngành sử dụng ngân sách nhà nước phụ thuộc vào mức tăng của chi thường xuyên nên mức tăng của khu vực này chỉ đạt 7,50%. Trong đó: giá trị tăng thêm của ngành bán buôn, bán lẻ tăng 11,35%; vận tải, kho bãi tăng 9,53%; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 8,55%; ...  

Thuế sản phẩm tăng khá và đạt 7,84% so cùng kỳ năm 2018, do nhiều sắc thuế thu đạt khá như: Thu từ doanh nghiệp Trung ương quản lý, tăng 14%; Thu từ doanh nghiệp Địa phương quản lý, tăng 5,2%; Thu từ khu vực CTN-DV ngoài quốc doanh, tăng 13,5%; …

Cơ cấu kinh tế 9 tháng/2019 chuyển dịch đúng hướng; Ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản giảm từ 21,98% xuống còn 21,44%; ngành Công nghiệp, xây dựng tăng từ 31,46% lên 31,64%; ngành dịch vụ tăng từ 41,73% lên 42,10%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng từ 4,82% lên 4,83%.

2. Tài chính, ngân hàng

Tổng thu ngân sách trên địa bàn tỉnh 9 tháng đầu năm 2019 ước đạt 11.129 tỷ đồng, bằng 82,5% dự toán cả năm và tăng 15,0% so với cùng kỳ năm 2018, trong đó thu nội địa ước đạt 9.888 tỷ đồng, bằng 83,8% dự toán và tăng 17,4%. Tình hình cụ thể một số khoản thu: Thu từ khu vực CTN-DV ngoài quốc doanh bằng ước đạt 3.456 tỷ đồng bằng 77,0% dự toán và tăng 13,5%; Thuế bảo vệ môi trường ước đạt 1.343 tỷ đồng bằng 83,4% dự toán, tăng 64%; Thu tiền sử dụng đất ước đạt 2.234 tỷ đồng, bằng 94,7% dự toán, tăng 5,3%; Thu từ hoạt động xuất nhập khẩu 1.241 tỷ đồng, bằng 73% dự toán; …

Tổng chi ngân sách 9 tháng ước đạt 18.446 tỷ đồng, bằng 75,8% dự toán. Trong đó chi đầu tư phát triển 4.350 tỷ đồng, bằng 83,8% dự toán; Chi thường xuyên 13.851 tỷ đồng, bằng 73,5% dự toán. Chi thường xuyên chủ yếu tập trung chi lương và các khoản có tính chất lương, đảm bảo hoạt động có tính chất thường xuyên của các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp và thực hiện chính sách an sinh xã hội cũng như phát triển kinh tế. Các khoản chi quan trọng trong chi thường xuyên đều bảo đảm như: Chi sự nghiệp kinh tế 1.414 tỷ đồng, bằng 75,4% dự toán; chi sự nghiệp giáo dục đào tạo 5.913 tỷ đồng, bằng 73,5% dự toán; chi sự nghiệp y tế 1.537 tỷ đồng, bằng 72,8%; chi quản lý hành chính 2.581 tỷ đồng, bằng 73,7% dự toán.

Nguồn vốn huy động trên địa bàn tính đến 30/9/2019 nguồn vốn huy động trên địa bàn ước đạt 134.700 tỷ đồng, so với tháng trước tăng 1.066 tỷ đồng, bằng 0,8%; so với đầu năm tăng 14.069 tỷ đồng, bằng 11,7%.

Đến 30/9/2019 tổng dư nợ của các TCTD trên địa bàn ước đạt 203.250 tỷ so với đầu năm tăng 10.705 tỷ đồng, bằng 5,6%; so với tháng trước tăng 973 tỷ đồng, bằng 0,5%.

Trong 9 tháng đầu năm 2019, trên địa bàn xuất hiện các ổ dịch tả lợn Châu Phi; đến thời điểm 31/8/2019, dư nợ đối với ngành chăn nuôi lợn là 833.430 triệu đồng, trong đó dư nợ bị thiệt hại do dịch tả lợn Châu Phi là 5.860 triệu đồng, tổng số nợ đã được hỗ trợ là 5.320 triệu đồng.

3. Giá cả thị trường

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 9 năm 2019, tăng 0,15% so với tháng trước; tăng 0,95% so cùng kỳ năm trước; tăng 1,58% so với tháng 12 năm 2018; CPI bình quân cùng kỳ, tăng 1,73%. Có 4/11 nhóm hàng hóa chỉ số giá tăng so với tháng trước: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,18%; May mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,59%; Giáo dục tăng 3,72%; Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,45%. Bên cạnh đó có 5 nhóm hàng giảm: Đồ uống và thuốc lá giảm 0,09%; Nhà ở, điện nước, chất đốt và VLXD giảm 0,36%; Thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,09%; Giao thông giảm 0,87%; Văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,4%.

  Bình quân chung 9 tháng đầu năm 2019 chỉ số giá tiêu dùng CPI tăng 1,75% so với cùng kỳ, Có 10/11 nhóm hàng chỉ số giá tăng so với cùng kỳ: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống, tăng 2,18%; Đồ uống và thuôc lá, tăng 2,45%; Giáo dục, tăng 5,19%; Văn hóa, giải trí và dịch vụ, tăng 3,84%; Hàng hóa và dịch vụ khác, tăng 2,35%. Bên cạnh đó có 01 nhóm có chỉ số giá giảm: Nhà ở, điện nước, chất đốt và VLXD, giảm 0,34%.

 Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ không sử dụng để tính Chỉ số giá tiêu dùng, Chỉ số giá vàng tăng 17,36%, so với tháng trước. So với cùng kỳ, tăng 3,15%, bình quân cùng kỳ tăng 3,68%. Chỉ số giá đô la Mỹ, giảm 0,95%, so với tháng trước, so với cùng kỳ tăng 0,1%. Bình quân cùng kỳ, tăng 1,38%.

4. Đầu tư và xây dựng

          Từ đầu năm đến nay, lĩnh vực đầu tư xây dựng phát triển khá có nhiều công trình lớn khởi công, chủ yếu thực hiện trên các công trình chuyển tiếp. Vốn đầu tư phát triển quý III/2019 thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước ước đạt 4.391 tỷ đồng, tăng 11,03%, trong đó: Vốn trung ương quản lý ước đạt 1.766 tỷ đồng tăng 15,14%, vốn địa phương quản lý ước đạt 2.625 tỷ đồng tăng 8,42%.  Tính chung 9 tháng đầu năm ước đạt 10.873 tỷ đồng, tăng 8,58% so với cùng kỳ năm 2018.

          Ước tính tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn quý III/2019 đạt 19.946 tỷ đồng đưa 9 tháng năm 2019 ước đạt 50.111 tỷ đồng, tăng 13,67%. Phân theo khoản mục đầu tư: vốn đầu tư xây dựng cơ bản quý III ước đạt 18.265 tỷ đồng đưa 9 tháng 2019 ước đạt 45.334 tỷ đồng, chiếm 90,47% tổng vốn, tăng 11,14%; Vốn đầu tư mua sắm tài sản cố định dùng cho sản xuất không qua XDCB ước đạt 1.803 tỷ đồng, tăng 70%; vốn sửa chữa lớn, nâng cấp TSCĐ ước đạt 1.652 tỷ đồng, tăng 40,96%; Vốn đầu tư bổ sung vốn lưu động ước đạt 1.033 tỷ đồng, tăng 34,26%...

Các công trình, dự án lớn thực hiện trong kỳ: Dự án Chăn nuôi Bò sữa TH và chế biến sữa tập trung quy mô công nghiệp (vốn ODA trung ương) tổng vốn đầu tư 8.769 tỷ đồng, thực hiện trong kỳ 393 tỷ đồng; Khu Liên hợp sản xuất Vật liệu xây dựng của công ty CP Trung Đô tổng vốn đầu tư 1.450 tỷ đồng, thực hiện trong kỳ 103 tỷ đồng;

Khôi phục vùng ngập lũ tỉnh Nghệ An; Xây dựng công trình đường giao thông nối đường N5 Khu KT Đông Nam đến Hòa Sơn, Đô Lương; Kè chống sạt lở bờ hữu sông Nam Cấm và nơi neo đậu tàu thuyền phòng tránh thiên tai phường Nghi Tân, thị xã Cửa Lò; Dự án bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ Thanh Chương giai đoạn 2012 - 2020; Xây dựng hạ tầng kỹ thuật cụm công nghiệp Bồng Khê, huyện Con Cuông; Đường giao thông nối QL1A - Huyện Nghĩa Đàn - Thị xã Thái Hoà; Đường Mường Xén - Ta Đo - Khe Kiền; Đại lộ Vinh - Cửa Lò (GĐ1); Phát triển đô thị loại vừa tại Việt Nam - Tiểu dự án thành phố Vinh; Đường từ Thị trấn huyện Thanh Chương đi vào khu Tái định cư thủy điện Bản Vẽ huyện Thanh Chương; Tiểu dự án 3, dự án Sửa chữa, nâng cao an toàn đập WB8 tỉnh Nghệ An; Dự án Hồ chứa nước bản Mồng; Xây dựng Nhà máy Xi măng Tân Thắng; Trạm nghiền Nghi Thiết của Công ty cổ phần xi măng Sông Lam; Khu Liên hợp sản xuất Vật liệu xây dựng Trung Đô; Xây dựng xưởng sản xuất công ty cổ phần may Minh Anh; Mua sắm hệ thống máy móc dự án thủy điện Bản Mồng …

Tính đến ngày 16/8/2019, tỉnh đã cấp mới cho 69 dự án, với tổng số vốn đầu tư đăng ký là 7.027 tỷ đồng; điều chỉnh 5 lượt dự án với tổng số vốn đầu tư điều chỉnh tăng 648 tỷ đồng. Tập đoàn VinGroup với Dự án cải tạo Khu B Quang Trung tổng mức đầu tư 2.500 tỷ đồng; Trung tâm thương mại Shop House Long Sơn tổng mức đầu tư 110 tỷ đồng; Khu Liên hợp sản xuất Vật liệu xây dựng Trung Đô tổng mức đầu tư 1.450 tỷ đồng; Nhà máy sản xuất viên nén sinh khối Biomass Fuel tổng mức đầu tư 455 tỷ đồng; …              

          5. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp

Tính chung 9 tháng đầu năm 2019, trên địa bàn tỉnh Nghệ An đã cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho 1.212 doanh nghiệp, tăng 12% so với cùng kỳ; Tổng số vốn các doanh nghiệp đăng ký luỹ kế từ đầu năm đạt 2.833,63 tỷ đồng, tăng 24,57% so với cùng kỳ; đồng thời có 465 doang nghiệp đăng ký hoạt động trở lại sản xuất kinh doanh; do tình hình sản xuất kinh doanh khó khăn nên có doanh nghiệp giải thể trong 9 tháng đầu năm là 59 doanh nghiệp, bằng 67%. Số lần doanh nghiệp thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh 9 tháng đầu năm là 1.286 lần, tăng 9,17%.

6. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

Tình hình sản xuất nông nghiệp Quý III và 9 tháng đầu năm 2019 diễn ra trong điều kiện thời tiết không thuận lợi, thị trường tiêu thụ sản phẩm không ổn định, gặp nhiều khó khăn; kết quả sản xuất còn phụ thuộc nhiều vào thời tiết khí hậu và bị ảnh hưởng bởi các loại dịch, sâu bệnh… Giá trị sản xuất 9 tháng  đầu  năm 2019 (theo giá so sánh 2010) ước tăng 4,97% so với cùng kỳ năm 2018/kế hoạch đặt ra 5,1%.

          6.1. Sản xuất nông nghiệp

a. Trồng trọt

          Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm 9 tháng năm 2019 ước đạt 263.899 ha, tăng 3,59% so với cùng kỳ năm 2018, cụ thể như sau:

          Cây lúa diện tích gieo cấy ước đạt 152.727 ha, tăng 0,93% so với cùng kỳ năm 2018, năng suất ước đạt 57,34 tạ/ha, ước tính sản lượng đạt 875.787 tấn. Cây ngô diện tích gieo trồng ước đạt 40.088 ha, tăng 3,96% so với năm 2018, năng suất ước đạt 47,03 tạ/ha, tăng 3,42%, sản lượng ước đạt 188.549 tấn, tăng 7,52%.

          Cây khoai lang diện tích gieo trồng ước đạt 3.292 ha, giảm 3,88% so với cùng kỳ năm 2018, năng suất ước đạt 70,59 tạ/ha, sản lượng ước đạt 23.238 tấn, tăng 7,87%. Cây sắn, diện tích ước đạt 1.655 ha. Cây mía, diện tích ước đạt 617 ha…

Cây rau, đậu các loại và hoa diện tích gieo trồng ước đạt 33.088 ha, tăng 9,29% so với 9 tháng năm 2018, trong đó: Rau các loại diện tích 29.572 ha; năng suất ước đạt 151,82 tạ/ha; sản lượng ước đạt 448.962 tấn, tăng 16,6%.

          Tổng diện tích cây lâu năm 9 tháng/2019 ước đạt 47.875 ha, giảm 0,72% so với cùng kỳ năm 2018, trong đó cây ăn quả ước đạt 22.607 ha, tăng 1,46%, một số cây lâu năm có sản lượng đạt khá như Chuối 55.200 tấn, tăng 12,31%; Dứa 19.300 tấn, tăng 20,71%; Cam 8.118 tấn, tăng 4,52%; chanh 17.626 tấn, tăng 4,77%; bưởi 7.320 tấn, tăng 13,95%; Cao su 4.643 tấn, tăng 8,33%; … Còn lại các cây trồng khác phát triển bình thường. Năm nay do hạn hạn kéo dài nên Chè búp đạt 61.686 tấn và giảm 1,81%.

          b. Chăn nuôi

          Tổng đàn trâu tính đến tháng 9/2019 ước đạt 272.740 con, giảm 0,94% (-2.590 con) so cùng kỳ năm 2018. Đàn bò 472.772 con, tăng 2,01% (+9.312 con); trong đó bò sữa 57.555 con, giảm 6,61% (-4.075 con). Nguyên nhân so với cùng kỳ năm trước tổng đàn trâu giảm do diện tích đồng cỏ bị thu hẹp, chương trình cơ giới hóa sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp ngày càng mở rộng thay cho sức kéo của đàn trâu, trâu chủ yếu là trâu thịt; tổng đàn bò tăng do thịt bò trở thành thực phẩm ưa chuộng trong đời sống của người dân, hiệu quả kinh tế cao. Sản lượng trâu hơi xuất chuồng quý 9 tháng ước đạt 12.777 tấn, tăng 5,25% (+637 tấn); sản lượng bò hơi chuồng 9 tháng ước đạt 17.628 tấn, tăng 4,51% (+761 tấn).

Tổng đàn lợn tính đến tháng 9/2019 ước đạt 994.271 con, giảm 1,99% (-20.204 con), tổng đàn lợn giảm do dịch tả lợn châu Phi diễn ra trên diện rộng và kéo dài từ những tháng đầu năm. Sản lượng lợn xuất 9 tháng ước đạt 107.257 tấn, tăng 4,07% (+4.191 tấn).

Tổng đàn gia cầm tính đến tháng 9/2019 ước đạt 24,99 triệu con, tăng 5,73% (+1,35 triệu con) so với cùng kỳ năm 2018, trong đó đàn gà 20,51 triệu con, tăng 6,56% (+1,26 triệu con). So với cùng kỳ năm ngoái đàn gia cầm có xu hướng tăng là do nhu cầu tiêu dùng thịt gia cầm ngày càng cao, do đàn lợn có dịch nên người dân chuyển sang tiêu dùng các loại thịt khác thay thế trong đó có thịt gia cầm.

Từ lúc xuất hiện dịch tả lợn châu Phi (tháng 3/2019) đến nay, bệnh dịch diễn biến rất phức tạp, mầm bệnh đã xâm nhiễm vào một số gia trại chăn nuôi, số lượng lợn mắc bệnh buộc tiêu hủy tăng, đặc biệt tại các huyện có tổng đàn lợn lớn, mật độ chăn nuôi cao. Đến nay trên địa bàn tỉnh, dịch tả lợn Châu Phi đang xảy ra tại 3.452 hộ, 462 xóm, 95 xã trên địa bàn 14 huyện, thành phố, thị xã (riêng 3 huyện, thị xã: Nghĩa Đàn, Thái Hoà, Cửa Lò chưa xảy ra dịch). Tổng số lợn đã tiêu huỷ là 15.693 con, tổng trọng lượng là 703,87 tấn. Để ngăn chặn dịch tả lợn châu Phi lây lan ra diện rộng, ngành chức năng tỉnh đã lập hàng chục trạm kiểm dịch động vật, kiểm soát toàn bộ lợn lưu thông trên địa bàn tỉnh, thực hiện tiêu độc, khử trùng, kêu gọi người dân thực hiện nghiêm ngặt các biện pháp an toàn sinh học trong chăn nuôi.

          6.2. Sản xuất lâm nghiệp

          Diện tích trồng rừng tập trung ước thực hiện quý III là 5.368 ha, tăng 0,34%; số cây lâm nghiệp trồng phân tán 1,73 triệu cây; tính chung 9 tháng/2019 ước đạt 12.377 ha, tăng 0,34% (+42ha) so cùng kỳ năm 2018. Số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 6,27 triệu cây tăng 0,19%. Chăm sóc rừng: Các tổ chức, hộ dân đang tiến hành chăm sóc rừng lần 2 đối với diện tích rừng trồng năm thứ nhất và năm thứ 2, thứ 3 đúng tiến độ, diện tích ước đạt 58.120 ha tăng 1,02%. Khoanh nuôi rừng: Đang tổ chức triển khai khoanh nuôi tái sinh rừng đúng tiến độ với diện tích ước đạt 67.420 ha tăng 7,67%.

          Tổng sản lượng gỗ khai thác quý III ước đạt 312.105 m3, tăng 23,64% so cùng kỳ quý III năm 2018; tính chung 9 tháng/2019 ước tính đạt 814.718 m3 tăng 14,51% (+ 103.223 m3) so với cùng kỳ 9 tháng đầu năm 2018. Củi khai thác 9 tháng đầu năm ước đạt 848.871 ste tăng 0,43% (+ 3.671 ste).

          Trong quý III trên địa bàn tỉnh xảy ra 10 vụ cháy rừng, giảm 33,33% so cùng kỳ quý III năm 2018, với diện tích rừng bị thiệt hại 14,31 ha, giảm 75,68%; tính chung 9 tháng đầu năm xẩy ra 25 vụ cháy rừng, tăng 19,05% (+ 4 vụ) so với cùng kỳ 9 tháng đầu năm 2018, diện tích có rừng bị thiệt hại: 46,65 ha giảm 43,73% (- 36,26 ha); Tính đến 9 tháng đầu năm đã phát hiện xử lý 460 vụ vi phạm lâm luật giảm 4,56% (- 22 vụ), tịch thu 567 m3 gỗ các loại, thu nộp ngân sách 3,47 tỷ đồng.

6.3. Sản xuất thủy sản

          Diện tích 9 tháng đầu năm ước đạt 20.760 ha tăng 0,29%(+61 ha) so cùng kỳ năm 2018, chia ra: diện tích nuôi cá 18.626 ha, diện tích tôm 1.919 ha, diện tích thủy sản khác 215 ha.

          Tổng sản lượng thủy sản trong quý III ước đạt 59.943 tấn, tăng 11,62%; tính chung sản lượng thủy sản trong 9 tháng/2019 ước đạt 170.664 tấn, tăng 10,09%(+15.639 tấn) chia ra: sản lượng khai thác ước đạt 126.892 tấn, tăng 11,49%(+13.081 tấn); sản lượng nuôi trồng ước đạt 43.772 tấn, tăng 6,21%(+ 2.558 tấn), tăng 10,09%(+15.639 tấn). 

          Nhằm phục vụ cho nhu cầu nuôi trồng thủy sản, việc sản xuất con giống trong quý III năm 2019 ước đạt 1.051 triệu con, tăng 10,17% so cùng kỳ quý III năm 2018; tính chung 9 tháng/2019 ước đạt 2.862 triệu con, chia ra: cá 576 triệu con, tôm 2.113 triệu con, thủy sản khác 173 triệu con.

          7. Sản xuất công nghiệp

Khu vực Công nghiệp – xây dựng có giá trị sản xuất tăng 10,97% so với cùng kỳ năm 2018/ kế hoạch cả năm tăng 21%. Tính chung 9 tháng đầu năm chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 7,1% so với cùng kỳ năm 2018, tình hình cụ thể như sau:

           Chỉ số sản xuất công nghiệp khai khoáng quý III ước đạt 7,18%, tính chung 9 tháng, tăng 1,3% so với cùng kỳ năm 2018. Nguyên nhân tăng thấp do tài nguyên khoáng sản ngày càng cạn kiệt, khai thác khoáng sản ngày càng khó khăn, doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn. Sản phẩm Quặng thiếc khai thác ước đạt 170,3 tấn, bằng 106,61% so với cùng kỳ; đá xây dựng qua chế biến ước đạt 514,6 nghìn m3, giảm 19,44%; Đá xây dựng khác ước đạt 1.941,5 nghìn m3, giảm 7,81%.

          Chỉ số sản xuất công nghiệp chế biến quý III ước đạt 18,67%, tính chung 9 tháng, tăng 11,6% so với cùng kỳ năm 2018. Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng do một số nhà máy đã đầu tư nâng cấp mở rộng sản xuất, cộng với việc các doanh nghiệp mới đã đi vào hoạt động từ đầu năm 2018 nay hoạt động ổn định hơn. Cụ thể như sau: Bao bì bằng giấy ước đạt 42,2 triệu chiếc, tăng 47,19%; Xi măng ước đạt 4.657,4 nghìn tấn, tăng 45,57%; Phân NPK ước đạt 47,1 nghìn tấn, tăng 36,5%; Vỏ bào dăm gỗ ước đạt 377,2 nghìn tấn, tăng 35,47%; Thức ăn gia súc ước đạt 100,7 nghìn tấn, tăng 33,14%; Bia đóng chai ước đạt 48,7 triệu lít, tăng 27,08%; Ống nhựa tiền phong ước đạt 14 nghìn tấn, tăng 18,04%; ...

          Một số sản phẩm có mức tăng trưởng thấp và giảm do ảnh hưởng chính sách thương mại giữa Mỹ - Trung nên việc tiêu thụ giảm, lượng hàng tồn kho lớn các nhà máy hạn chế sản xuất để tiêu thụ sản phẩm như: Ống thép Hoa Sen ước đạt 18,5 nghìn tấn, giảm 24,84%; Sợi ước đạt 11,3 nghìn tấn, giảm 21,34%; Tôn lợp ước đạt 458,1 nghìn tấn, giảm 15,75% ...   

          Chỉ số sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước, và điều hòa không khí, quý III giảm 14,14%, tính chung 9 tháng/2019, giảm 6,34% so với cùng kỳ năm 2018. Nguyên nhân giảm do tháng 6 và tháng 7/2019 vào đỉnh điểm mùa khô, lưu lượng nước trong các hồ chứa thấp mức kỷ lục nên sản lượng điện sản xuất giảm mạnh. Điện sản xuất 9 tháng ước đạt 2.302,5 triệu KWh, giảm 8,48%; Sản lượng Điện thương phẩm ước đạt 2.672,3 triệu KWh, tăng 14,02%.

          Chỉ số sản xuất công nghiệp ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý nước thải, rác thải quý III tăng 3,44%, tính chung 9 tháng tăng 5,96% so với cùng kỳ năm 2018. Trong đó: sản phẩm Nước uống được đạt 22,8 triệu m3, tăng 8,1%, Dịch vụ thu gom rác thải ước đạt 50,5 tỷ đồng, tăng 3,18%; …

          8. Thương mại, dịch vụ

Tổng mức bán lẻ hàng hóa quý III/2019 theo giá hiện hành ước đạt 16.153 tỷ đồng, tăng 13,67% so với cùng kỳ năm 2018, đưa tổng mức bán lẻ hàng hóa 9 tháng đầu năm 2019 ước đạt 46.879 tỷ đồng, tăng 13,87%. Trong đó: kinh tế nhà nước ước đạt 1.719 tỷ đồng, tăng 1,94%; kinh tế ngoài nhà nước ước đạt 44.770 tỷ đồng, tăng 14,33%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 390 tỷ đồng, tăng 20,74%. Phân theo nhóm ngành hàng như sau: nhóm lương thực, thực ước đạt 14.980 tỷ đồng, tăng 17,85%; nhóm đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình 5.949 tỷ đồng, tăng 9,3%; nhóm gỗ và vật liệu xây dựng 3.167 tỷ đồng, tăng 2,77%; ô tô các loại ước đạt 7.207 tỷ đồng, tăng 11,57%; phương tiện đi lại (trừ ô tô) ước đạt 3.394 tỷ đồng, tăng 10,1%; xăng dầu ước đạt 4.504 tỷ đồng, tăng 30,04% ...

Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành quý III/2019 ước đạt 2.593 tỷ đồng, tăng 13,19% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước đạt 6.918 tỷ đồng, tăng 14,09%. Trong đó: dịch vụ lưu trú phục vụ 5,13 triệu lượt khách, tăng 13,76% (3,72 triệu lượt khách ngủ qua đêm, trong đó có 106 nghìn lượt khách quốc tế) với doanh thu 1.083 tỷ đồng, tăng 13,33%; dịch vụ ăn uống 5.704 tỷ đồng, tăng 14,24%; dịch vụ du lịch lữ hành 132 tỷ đồng, tăng 13,78%.

Doanh thu hoạt động dịch vụ khác (trừ dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành) quý III/2019 ước đạt 1.563 tỷ đồng, tăng 10,38% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng/2019 ước đạt 4.721 tỷ đồng, tăng 10,34%; trong đó: kinh doanh bất động sản ước đạt 1.723 tỷ đồng, tăng 4,19%; dịch vụ hành chính ước đạt 870 tỷ đồng, tăng 11,0%; dịch vụ y tế ước đạt 806 tỷ đồng, tăng 19,16%; dịch vụ vui chơi và giải trí ước đạt 372 tỷ đồng, tăng 16,75%…

Hoạt động kinh doanh vận tải quý III và 9 tháng năm 2019 ổn định và đáp ứng tốt nhu cầu sản xuất, đời sống và đi lại của dân cư. Nhằm hạn chế đến mức thấp nhất các hiện tượng lèn khách, ép giá, đảm bảo giao thông thông suốt, cho nên các ngành chức năng đã triển khai công tác kiểm tra, giám sát hoạt động vận tải trên địa bàn toàn tỉnh.

Vận chuyển hành khách quý III/2019 ước đạt 23,21 triệu lượt khách, tăng 11,59% so cùng kỳ năm 2018, khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 1.950,26 triệu lượt khách.km, tăng 11,26%. Tính chung 9 tháng khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 75,47 triệu lượt khách, tăng 14,32%; khối lượng hành khách luân chuyển 6.195,31 triệu lượt khách.km, tăng 14,2%.

Vận tải hàng hóa quý III/2019 ước đạt 22,23 triệu tấn, tăng 12,93% so cùng kỳ và khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 783,97 triệu tấn.km, tăng 10,82%. Tính chung 9 tháng đầu năm khối lượng vận chuyển hàng hóa ước đạt 65,55 triệu tấn, tăng 13,7% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển hàng hóa 2.564,25 triệu tấn.km, tăng 11,79%.

Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải quý III/2019 ước đạt 2.440 tỷ đồng, tăng 12,25% so cùng kỳ năm 2018, đưa doanh thu 9 tháng ước đạt 7.674 tỷ đồng, tăng 14,23%, trong đó doanh thu vận tải hàng hóa 4.813 tỷ đồng, tăng 14,03%; doanh thu vận tải hành khách 1.852 tỷ đồng, tăng 15,08% và doanh thu bốc xếp, dịch vụ vận tải 1.006 tỷ đồng, tăng 13,28%.

B. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI

1. Lao động, việc làm, đời sống dân cư

Dân số tỉnh Nghệ An có hơn 3,33 triệu người, tỷ lệ tăng dân số hàng năm 1.33%, tức là hàng năm tăng khoảng 44.000 người; trong đó lực lượng lao động hơn hơn 1,8 triệu người đứng thứ 4 cả nước, hiện nay tỉnh đang ở trong thời kỳ “dân số vàng”, đây là lợi thế về nguồn lao động dồi dào nhưng cũng là thách thức khi giải quyết việc làm cho người lao động.

Trong 9 tháng đầu năm 2019, ước toàn tỉnh giải quyết việc làm cho 30.738 lao động (đạt 81,8% kế hoạch), trong đó: giải quyết việc làm trong tỉnh 11.302 người, ngoại tỉnh 9.627 người, xuất khẩu lao động 9.809 người (đạt 72,6% kế hoạch). Cấp mới giấy phép cho 140 lao động, cấp lại giấy phép cho 92 lao động nước ngoài làm việc tại 77 đơn vị.

9 tháng đầu năm 2019 kinh tế - xã hội tỉnh nhà mặc dù vẫn còn gặp nhiều khó khăn nhưng vẫn có bước phát triển và giá cả của hầu hết các loại hàng hóa, dịch vụ tăng vừa phải, nên nhìn chung đời sống của các tầng lớp dân cư được cải thiện hơn tuy vẫn còn gặp nhiều khó khăn, nhất là những người làm công ăn lương và những người thu nhập thấp.

Hiện nay, các địa phương trong tỉnh tập trung sản xuất kinh doanh để hoàn thành các chỉ tiêu KH năm 2019. Dưới sự chỉ đạo của cấp ủy Đảng và chính quyền địa phương, tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Nghệ An tiếp tục ổn định và phát triển, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, tỷ lệ hộ đói, nghèo ngày càng giảm. Tuy nhiên, nắng nóng gay gắt kéo dài vào trung tuần tháng 6, cộng với mưa lớn vào đầu tháng 9 do ảnh hưởng của áp thấp nhiệt đới, đã ảnh hưởng đến đời sống và sản xuất kinh doanh của người dân.

Trong khu vực Nhà nước đời sống của cán bộ công nhân viên chức có được cải thiện hơn do tiền lương cơ sở của các đơn vị hành chính, sự nghiệp tăng từ 1390 nghìn đồng lên 1490 nghìn đồng (tăng 7,19%) từ tháng 7/2019 và cán bộ, công nhân viên đương chức đều được trả lương, thưởng đầy đủ, đúng kỳ và trong dịp Tết nguyên đán hầu hết các đơn vị đã phát thưởng cho cán bộ, công chức từ 1 đến 2 tháng lương. Các đơn vị sản xuất kinh doanh tuy mức lương bình quân của người lao động trong doanh nghiệp từ 5-5,8 triệu đồng/tháng; dịp Tết nguyên đán các doanh nghiệp đã phát thưởng cho người lao động từ 4,6-5,6 triệu đồng/người.

Đối với hộ sản xuất nông nghiệp do thời tiết năm nay không được thuận lợi nhưng do sự chủ động của bà con nông dân nên sản xuất nông nghiệp cơ bản đạt kế hoạch đề ra, tại thời điểm 15/9/2019 này, bà con nông dân đang thu hoạch lúa Hè thu nên không còn hộ đói xảy ra trên địa bàn tỉnh.

Để tưởng nhớ và biết ơn đến những người đã có công, đối tượng bảo trợ xã hội, người nghèo, người cao tuổi. Trong dịp tết Nguyên đán tỉnh đã trao tặng số tiền là 119,52 tỷ đồng, trong đó: Tổng số tiền quà từ nguồn ngân sách nhà nước là 46,559 tỷ đồng. Với món quà của Chủ tịch nước là 19,4 tỷ đồng, quà của Chủ tịch UBND tỉnh là 8,6 tỷ đồng, quà từ ngân sách huyện, thành phố, thị xã 18,559 tỷ đồng. thực hiện lời kêu gọi của đồng chí Bí thư Tỉnh ủy các tổ chức, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp và cá nhân đã ủng hộ chương trình “Tết vì người nghèo Kỷ Hợi 2019” với số tiền là 72,961 tỷ đồng, trong đó:

+ Khối cơ quan hành chính sự nghiệp ủng hộ 12,549 tỷ đồng.

+ Khối các huyện, thành phố, thị xã ủng hộ 23,250 tỷ đồng.

+ Khối các doanh nghiệp ủng hộ 36,962 tỷ đồng.

+ Cá nhân ủng hộ 200 triệu đồng.

Về hỗ trợ gạo cứu đói cho nhân dân: Với số lượng gạo phân bổ cứu đói là 1.264,8 tấn cho 22.709 hộ, 84.324 nhân khẩu tại 18 huyện, thành trên địa bàn tỉnh.

Tiếp tục thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo và khắc phục khó khăn vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn như chương trình 135 giai đoạn 2016-2020 với 3 hợp phần; hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt theo quyết định 755/QĐ-TTg; hỗ trợ vay vốn phát triển sản xuất đối với hộ dân tộc thiểu số theo quyết định 54/QĐ-TTg; hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2017-2020 theo quyết định 2085/QĐ-TTg; …

          2. Giáo dục

Tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đào tạo. Nhìn chung chất lượng giáo dục có chuyển biến, việc giáo dục nhân cách, đạo đức cho học sinh tiếp tục được quan tâm; triển khai tích cực phổ cập giáo dục mầm non, trẻ mẫu giáo 5 tuổi; củng cố vững chắc chất lượng phổ cập giáo dục phổ thông; việc đánh giá chất lượng giáo dục ngày càng cao.

Năm học 2018-2019, tỷ lệ học sinh lớp 12 được công nhận tốt nghiệp THPT đạt 95,24%. Tỉnh đã làm tốt công tác phân luồng, hướng nghiệp đã có 6.500 học sinh giáo dục thường xuyên cấp trung học phổ thông.

Kết quả thi học sinh giỏi quốc gia năm 2019 Nghệ An có 71 học sinh đạt giải ba trở lên, trong đó, kỳ thi Khoa học kĩ thuật quốc gia có 4 học sinh đạt giải với 2 giải nhất và 2 giải nhì.

Ngày 15/9/2019, tại thành phố Vinh, đã tổ chức vòng chung kết Cuộc thi Đường lên đỉnh Olympia lần thứ 19 - năm 2019 với sự tham gia của 4 thí sinh. Kết quả thí sinh Trần Thế Trung (Trường THPT chuyên Phan Bội Châu - Nghệ An) đã xuất sắc giành vòng nguyệt quế Cuộc thi với 245 điểm.

Ngày 30/8/2019 Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An có Quyết định công bố học sinh được tuyên dương, Trong kỳ thi học sinh giỏi quốc gia các môn văn hóa, Nghệ An có 71 em đạt từ giải ba trở lên. Kỳ thi Khoa học kĩ thuật quốc gia có 4 học sinh đạt giải với 2 giải nhất và 2 giải nhì. Kết quả kỳ thi THPT quốc gia năm 2019, có 28 em (với số điểm từ 27,4 điểm trở lên) của 17 trường THPT trong tỉnh được tuyên dương, trao thưởng. Tiêu biểu là em Vũ Đức Vinh - đạt Huy chương Bạc Olympic Toán học quốc tế, em Dương Tùng Lâm - đạt Huy chương Đồng Olympic Sinh học quốc tế, em Hoàng Phan Hữu Đức, Nguyễn Văn Bình - đạt Huy chương Bạc Olympic Tin học Châu Á và Huy chương Đồng Olympic Vật lý châu Âu. Đây đều là các học sinh Trường THPT Chuyên Phan Bội Châu.

3. Y tế

Tổ chức giám sát chặt chẽ các loại dịch bệnh; chủ động và tích cực phòng chống các bệnh truyền nhiễm gây dịch, khống chế có hiệu quả các bệnh truyền nhiễm gây dịch nguy hiểm, phát hiện sớm các trường hợp mắc bệnh đầu tiên, chủ động xử lý, không để dịch phát triển và lan rộng. 

Tiếp tục duy trì củng cố và phát triển, hoàn thiện các kỹ thuật cao phục vụ công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân. Tổ chức triển khai thực hiện phương án tự chủ tại các Bệnh viện (tự chủ về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, nhân sự, tài chính) đạt kết quả tốt.

Tăng cường công tác truyền thông đảm bảo an toàn thực phẩm; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát các cơ sở sản xuất, chế biến và kinh doanh thực phẩm trên địa bàn, đặc biệt là trong dịp Tết Nguyên đán và mùa Lễ hội Xuân 2019. Nhờ vậy, đã giảm thiểu nguy cơ xảy ra các vụ ngộ độc thực phẩm so với năm trước.

Tuy nhiên trong kỳ các bệnh thông thường vẫn xảy ra, quý III/2019 tiêu chảy xảy ra 2.466 ca, giảm 2,43% so cùng kỳ quý III năm 2018; sốt rét 87 ca, tăng 7,14%; sốt xuất huyết 21 ca; ngộ độc thực phẩm 1 vụ. Tính chung 9 tháng  tiêu chảy có 6.794 ca, giảm 11,84%; Sốt rét 131 ca, tăng 9,17%; sốt xuất huyết 25 ca, giảm 69,88%; ngộ độc thực phẩm 4 vụ, giảm 42,86%. Nguyên nhân chính gây ra các vụ tiêu chảy và ngộ độc là do thời tiết, uống bia rượu nhiều, ăn các thức ăn chế biến có ướp hoá chất, rau hoa quả dử dụng hóa chất.

          Tình hình nhiễm HIV/AIDS: Đến ngày 31/7/2019 số người bị nhiễm HIV được phát hiện trên toàn tỉnh là 12.112 người, trong đó có 9.873 người trong tỉnh. Trong tổng số người nhiễm HIV đã có 7.058 người chuyển sang bệnh AIDS và đã tử vong 4.294 người.      

          4. Hoạt động Văn hóa – Thể thao

9 tháng đầu năm 2019 công tác văn hóa thông tin chủ yếu tập trung tuyên truyền, trang trí cổ động và tổ chức các hoạt động văn hóa phục vụ nhiệm vụ chính trị, các ngày lễ lớn của dân tộc như: Kỷ niệm 89 năm ngày thành lập Đảng; 64 năm ngày thầy thuốc Việt Nam 27/2; 30 năm ngày biên phòng toàn dân; Ngày thành lập đoàn TNCS HCM 26/3; 109 năm ngày Quốc tế Phụ nữ; 129 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh; 74 năm cách mạng tháng Tám và quốc khánh 2/9; … Tuyên truyền trong nhân dân nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị.

Trong những tháng đầu năm khắp nơi trong toàn tỉnh đã tổ chức các lễ hội như: Lễ hội Vua Mai ở huyện Nam Đàn, Lễ hội đền Vạn Lộc ở Cửa Lò, lễ hội Hang Bua ở Quỳ Châu, lễ hội Mường Ham ở Quỳ Hợp, lễ hội đền Quả Sơn ở Đô Lương, lễ hội đền Vạn – Cửa Rào, lễ hội đền Cờn ở Quỳnh Lưu, lễ hội Đền Nguyễn Xí ở Nghi Lộc, Lễ hội Làng Vạc ở Thị xã Thái Hòa,... Các lễ hội trên được tổ chức trang nghiêm, thành kính và các chương trình ca nhạc đặc sắc cùng với tổ chức thi đấu các môn thể dục thể thao như bóng đá, bóng chuyền, đua thuyền, ném tiêu, cờ thẻ, chọi gà, đu tiên, đẩy gậy, đốt lửa trại...

Về thể dục thể thao tiếp tục thực hiện phong trào “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại” gắn với “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”.

5. Trật tự, an toàn xã hội:

Trong quý III/2019 trên địa bàn tỉnh xảy ra 237 vụ, giảm 17,71%, bắt giữ 256 đối tượng phạm pháp kinh tế chủ yếu là buôn bán hàng cấm, hàng nhập lậu. Cộng dồn 9 tháng đầu năm đã xảy ra 1.116 vụ, giảm 21,25% với 1.224 đối tượng phạm pháp kinh tế.

Phạm pháp hình sự quý III/2019 xảy ra 266 vụ với 384 đối tượng, tội phạm chủ yếu là trộm cắp, cướp giật tài sản công dân. Tính chung 9 tháng đầu năm xảy ra 945 vụ với 1.522 đối tượng phạm pháp hình sự, giảm 2,58% số vụ và giảm 1,36% số đối tượng so với cùng kỳ năm trước.

Quý III/2019 buôn bán, vận chuyển, tàng trữ ma tuý xảy ra 246 vụ, tăng 6,96%, với 312 đối tượng; mại dâm có 2 vụ bị phát hiện, giảm 75% với 9 đối tượng. Tính chung 9 tháng đầu năm buôn bán, vận chuyển, tàng trữ ma tuý xảy ra có 751 vụ bị phát hiện, tăng 4,02% so vời cùng kỳ năm trước; bắt giữ 870 người, tăng 7,14%; số đối tượng sử dụng ma túy bị phát hiện 477 người, tăng 4,15%; số đối tượng hoạt động mại dâm 44 người, giảm 15,62%.

 Trong quý III/2019 xẩy ra 92 vụ tai nạn giao thông, làm chết 32 người, bị thương 86 người, ước giá trị thiệt hại 2,87 tỷ đồng. Như vậy trong 9 tháng đã xẩy ra 306 vụ tai nạn giao thông, giảm 4,97 so cùng kỳ; làm chết 135 người, giảm 12,9%; bị thương 257 người, giảm 0,77%; ước giá trị thiệt hại 8,66 tỷ đồng, giảm 2,74%.

Tóm lại: Quý III và 9 tháng đầu năm 2019 nền kinh tế - xã hội tỉnh Nghệ An còn gặp nhiều khó khăn như kinh tế phát triển chậm hơn kịch bản đề ra, thị trường tiêu thụ sản phẩm chưa được mở rộng, sức cạnh tranh của hàng hóa thấp, dịch bệnh xảy ra trên cây trồng, vật nuôi. Nhưng dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành quyết liệt và kịp thời của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh cùng với sự cố gắng của cộng đồng doanh nghiệp và toàn thể nhân dân nền kinh tế - xã hội tỉnh nhà tiếp tục ổn định và đạt mức tăng trưởng khá so với cùng kỳ: tốc độ tăng trưởng kinh tế 9 tháng ước đạt 7,68% so cùng kỳ năm 2018, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 7,1%, tổng mức bán lẻ hàng hóa tăng 13,87%, thu ngân sách tăng 15,0%. Hoạt động văn hóa sôi nổi, an ninh quốc phòng được đảm bảo.

Để đạt được mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2019, chúng ta cần tập trung vào một số giải pháp chủ yếu sau:

Một là: Cần tạo ra nhiều sản phẩm mới có giá trị tăng thêm cao trong xã hội, tập trung ưu tiên phát triển các lĩnh vực, các ngành có giá trị tăng thêm cao. 

Hai: Con người là nguồn lực chính quyết định quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội, vì là nhân tố quyết định việc khai thác, sử dụng, bảo vệ và tái tạo các nguồn lực khác. Trong thời gian qua tỉnh Nghệ An, đẩy nhanh tiến trình CNH, HĐH để nhanh chóng hội nhập vào thị trường. Thế mạnh lớn nhất của tỉnh nhà là nguồn lao động trẻ dồi dào, cần cù, chịu khó, ham học hỏi, có khả năng tiếp thu nhanh về công nghệ, khoa học kỹ thuật.

Ba là: Nguồn tài nguyên thiên nhiên là một trong những yếu tố đầu vào phục vụ sản xuất, những tài nguyên quan trọng nhất là đất đai, khoáng sản, rừng, biển và nguồn nước. Để bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá cần đưa ra các kế hoạch, các phương hướng chiến lược cụ thể và các chế tài phù hợp nghiêm khắc nhằm giúp cho công việc khai thác, sử dụng và tái tạo nguồn tài nguyên thiên nhiên một cách hợp lý, bền vững. Song song đó, hạn chế tối đa độ ô nhiễm tới môi trường trong việc sử dụng tài nguyên.

Bốn là: Để thu hút đầu tư đạt hiệu quả cao trong thời gian tới, tỉnh cần  thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:

- Quy hoạch phát triển hạ tầng: Nâng cao chất lượng chất công tác lập quy hoạch, nhất là quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng, quy hoạch phát triển đô thị, quy hoạch ngành, sản phẩm, tổ chức lập các quy hoạch còn thiếu, điều chỉnh các quy hoạch không còn phù hợp. Cần tăng cường công tác quản lý đối với khu công nghiệp, cụm công ngiệp, hoàn thành việc cải tạo nâng cấp các tuyến tỉnh lộ, hệ thống cấp thoát nước, hệ thống điện và hệ thống hạ tầng kỹ thuật.

- Cải cách thủ tục hành chính: Tiếp tục rà soát, cắt giảm các thủ tục hành chính không cần thiết; rút ngắn thời gian giải quyết các thủ tục hành chính lien quan đến đầu tư kinh doanh của doanh nghiệp. Thực hiện tốt mô hình “một cửa” tại các sở ngành. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước.

- Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực: rà soát, thực hiện cơ cấu lại hệ thống, các cơ sở đào tạo, đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh, theo nguyên tắc gắn quy mô, cơ cấu ngành nghề đào tạo với nhu cầu của các doanh nghiệp chú trọng đào tạo một số ngành công nghiệp như cơ khí, điện tử, sản xuất VLXD, …Xây dựng chiến lược đào tạo nguồn nhân lực có trình độ quản lý, kỹ thuật và có tay nghề cao.

- Nâng cao hiệu quả công tác vận động xúc tiến đầu tư, đổi mới công tác xúc tiến đầu tư theo hướng trọng tâm, trọng điểm.

          Năm là: Việc ứng dụng khoa học công nghệ để tăng năng suất lao động là quy luật phát triển tất yếu trong thời đại công nghiệp 4.0. Trên địa bàn tỉnh nhà nhiều doanh nghiệp tạo ra được các sản phẩm có giá trị kinh tế cao cũng nhờ ứng dụng khoa học kỹ thuật, áp dụng các công nghệ tiên tiến vào sản xuất. Điển hình: Công ty Ma san, công ty sữa TH, công ty sữa vinamilk, tôn Hoa sen... Công nghệ sản xuất cho phép cùng một lượng lao động và tư bản có thể tạo ra sản lượng cao hơn, nghĩa là quá trình sản xuất có hiệu quả hơn. Công nghệ phát triển ngày càng nhanh chóng. Có những bước tiến như vũ bão góp phần gia tăng hiệu quả của sản xuất.

          Sáu là: phát triển toàn diện các lĩnh vực văn hóa, xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân như tiếp tục đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo, nâng cao chất lượng giáo dục, phát triển năng lực, thể chất, nhân cách, đạo đức, lối sống cho học sinh, sinh viên, đẩy mạnh tiến độ trường chuẩn quốc gia; nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, y tế dự phòng, tăng cường công tác an toàn vệ sinh thực phẩm; giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo và bảo đảm an sinh xã hội.

          Bảy là: tiếp tục giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh, trật tự trong tình hình mới nhất là vùng biên giới, vùng biển, vùng tôn giáo; đấu tranh vô hiệu hóa hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; tăng cường phòng ngừa, tấn công, trấn áp tội phạm, triệt phá các tụ điểm phức tạp về tội phạm và tệ nạn xã hội; đảm bảo trật tự an toàn giao thông, kiềm chế và làm giảm tai nạn giao thông; giải quyết tốt khiếu nại, tố cáo của công dân./.

Nguồn: Ngụy Khắc Chiến, Cục Thống kê Nghệ An

 

 |  Đầu trang
 
<<   <  1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  ...  >  >>
 
 
 
Thông báo
Skip portletPortlet Menu
 
 
 
Thư viện ảnh
Skip portletPortlet Menu