Giới thiệu chung
Skip portletPortlet Menu
 
Tin tức - Sự kiện
Skip portletPortlet Menu
 
Lĩnh vực chuyên môn
Skip portletPortlet Menu
 
 
Liên kết website
Skip portletPortlet Menu
 
 
 
Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Nghệ An tháng 4 năm 2019 (02/05/2019 10:12 AM)

1. Sản xuất nông nghiệp

a. Trồng trọt:

Tháng 4/2019, sản xuất nông nghiệp chủ yếu tập trung chăm sóc các loại cây trồng vụ Xuân và phòng trừ sâu bệnh. Hiện nay các loại cây trồng chính vụ Xuân 2019 đang ở thời kỳ sinh trưởng và phát triển, thời tiết thuận lợi tuy nhiên trên cây lúa đã xuất hiện một số sâu bệnh như đạo ôn xảy ra đã làm cho 252,3 ha lúa bị nhiễm bệnh, trong đó có 10,8 ha bị nhiễm nặng; chuột phá hoại 1.285 ha, trong đó có 176 ha bị hại nặng ở Thành phố Vinh, Quỳnh Lưu, Yên Thành, Hưng Nguyên, Hoàng Mai; bệnh khô vằn phát sinh gây hại trên 5.626,7 ha, trong đó có 312 ha bị nhiễm nặng với tỷ lệ phổ biến 5-10% dánh bị hại; bệnh bạc lá, đốm sọc vi khuẩn phát sinh gây hại 378 ha ở Thành phố Vinh, Quỳnh Lưu, Nghi Lộc, Hoàng Mai với tỷ lệ nơi cao 5-10% số lá bị hại; Hiện tượng đốm nâu, khô cháy lá 54 ha ở Thành phố Vinh; ngoài ra sâu cuốn lá, sâu đục thân, rầy nâu, rầy lưng trắng,… cũng gây ảnh hưởng một số diện tích lúa.

Tổng diện tích gieo trồng vụ Đông Xuân 2019 ước đạt 227.457,9 ha, tăng 2,3% (+5.112,3 ha) so với cùng kỳ năm trước, cụ thể một số cây trồng chính như sau:

Diện tích lúa xuân ước đạt 92.212 ha bằng 99,89% so với cùng kỳ năm trước (-105,25 ha). Lúa Xuân được gieo cấy chủ yếu tại các huyện chủ động nguồn nước và có điều kiện thâm canh như Yên Thành 12.865,5 ha, Diễn Châu 9.189,7 ha, Thanh Chương 8.600 ha, Đô Lương 8.441,4 ha, Nghi Lộc 7.900 ha, Quỳnh Lưu 7.600 ha, Nam Đàn 6.852,8 ha,…

Cây ngô diện tích gieo trồng vụ Đông Xuân ước đạt 37.010,3 ha, tăng 3,7% so với cùng vụ năm trước (+1.304 ha), trong đó vụ Xuân ước đạt 18.243 ha, tăng 6,71% (+1.147,5 ha) so với cùng vụ năm trước. Hiện nay có một số sâu bệnh đã xảy ra trên cây ngô như sâu keo, sâu đục thân, bệnh đốm lá, bệnh khô vằn…gây hại cục bộ trên diện hẹp.

Cây mía diện tích hiện có 24.881,7 ha, tăng 1,07% (+262,6 ha). Hiện nay bệnh chồi cỏ xảy ra 966 ha, trong đó 104 ha bị nhiễm từ trung bình đến nặng, ngoài ra bệnh thối đỏ, sâu đục thân, châu chấu,… phát sinh gây hại nhưng với mức độ nhẹ.

Các cây trồng khác cũng được bà con tích cực gieo trồng như: Cây khoai lang diện tích gieo trồng 3.263 ha, trong đó vụ Xuân 1.551 ha, tăng 11,07% (+154,5 ha) so với cùng vụ xuân năm trước; Cây rau, đậu, hoa cây cảnh diện tích gieo trồng ước đạt 26,294,6 ha, trong đó vụ Xuân 13.778,8 tăng 1,82% (+247 ha), trong đó rau xuân các loại ước đạt 12,602 ha, tăng 3,29% (+402 ha); Cây lạc diện tích gieo trỉa ước đạt 15.059,6 ha, trong đó vụ Xuân 13.700 tăng 11,93% (+1.460 ha). Hiện nay trên cây lạc, cây rau đậu xuất hiện một số bệnh như sâu xanh, sâu khoang, sâu cuốn lá, rệp, sâu xanh, sâu tơ, bọ nhảy, bệnh thối gốc, chuột hại phát sinh cục bộ tại một số vùng. Còn lại các cây trồng khác phát triển bình thường.

                b. Chăn nuôi:

Chăn nuôi gia súc, gia cầm tiếp tục phát triển, tổng đàn trâu hiện nay ước đạt 272.840 con, giảm 0,74% (-2.030 con) so với cùng kỳ năm trước; Tổng đàn bò ước đạt 470.819 con, tăng 2,27% (+10.459 con), trong đó bò sữa 59.057 con, giảm 6,45% (-4.073); Tổng đàn lợn ước đạt 931.710 con, tăng 3,53% (+31.742 con); Tổng đàn gia cầm (gà, vịt, ngan, ngỗng) ước đạt 23.661 nghìn con, tăng 7,66% (+1.684 nghìn con), trong đó đàn gà ước đạt 19.708 nghìn con, tăng 8,92% (+1.614 nghìn con).

So với cùng kỳ năm trước tổng đàn trâu giảm do chương trình cơ giới hóa sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp ngày càng mở rộng thay cho sức kéo của đàn trâu; tổng đàn bò tăng (thịt bò trở thành thực phẩm ưa chuộng trong đời sống của người dân, hiệu quả kinh tế cao); Tổng đàn lợn tăng do giá thịt lợn hơi tăng lên và đứng ở mức cao trong thời gian dài (gần đây có dịch tả lợn Châu Phi giá thịt lợn hơi có giảm), người chăn nuôi có lãi nên đầu tư mở rộng đàn; tổng đàn gia cầm tăng (do nhu cầu tiêu dùng thịt gia cầm ngày càng cao, điều kiện chăn nuôi phù hợp với điều kiện kinh tế hộ gia đình). Tuy nhiên, bò sữa trên địa bàn giảm do Công ty TH Nghĩa Đàn chuyển một số lượng bò sữa về trang trại chăn nuôi của TH Lâm Đồng.

Tình hình dịch bệnh: Trên địa bàn toàn tỉnh đã xảy ra dịch tả lợn Châu Phi ở 6 huyện Quỳnh Lưu, Hoàng Mai, Tân Kỳ, Nam Đàn, Đô lương và Quỳ Hợp. Chi cục chăn nuôi và thú y phối hợp với các địa phương tiêu hủy số gia súc bị mắc bệnh, ngăn chặn dịch lây lan ra diện rộng. Đến nay đã tiêu hủy 161 con (6.170,5 kg), cung cấp máy móc, đồ bảo hộ và phun hóa chất chống dịch. Ngày 16/4 huyện Quỳnh Lưu đã công bố hết dịch trên địa bàn xã Quỳnh Mỹ và các xã vùng dịch uy hiếp: Ngọc Sơn, Quỳnh Lâm, Quỳnh Hoa, Thị trấn Cầu Giát. Ngoài ra trong tháng cũng xảy ra dịch cúm gia cầm ở huyện Yên Thành, số gia cầm mắc bệnh đã được tiêu hủy, đến nay ổ dịch đã được khống chế, qua 15 ngày không phát sinh ca bệnh mới.

2. Sản xuất lâm nghiệp

Tháng 4/2019 thời tiết thuận lợi cho việc trồng rừng, do đó diện tích trồng rừng tập trung tháng này ước đạt 1.872 ha, tăng 0,27% so với cùng kỳ năm trước, đưa diện tích trồng rừng 4 tháng ước đạt 6.338 ha, tăng 0,22% (+14 ha) so với cùng kỳ năm trước; bảo vệ 956.705 ha rừng hiện có. Ngoài ra trong tháng 4 đã khai thác được 128.367 m3 gỗ các loại, tăng 12,32% (+14.083 m3), cộng dồn 4 tháng khai thác được 278.874 m3, tăng 6,13% (+16.119 m3), sản lượng gỗ khai thác tăng từ rừng trồng của các dự án, hộ dân sinh đã đến kỳ thu hoạch và làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến như ván ép, dăm gỗ, nguyên liệu giấy và nhu cầu xây dựng; củi khai thác tháng 4 ước đạt 107.385 ste, cộng dồn 4 tháng 415.702 ste, tăng 0,21%;…

Công tác bảo vệ rừng thường xuyên được quan tâm, nhất là công tác phòng cháy chữa cháy nên trong 4 tháng đầu năm không xảy ra vụ cháy nào. Tuy nhiên trong tháng 4 đã phát hiện và xử lý 40 vụ vi phạm lâm luật, trong đó: vi phạm về phá rừng trái phép 8 vụ; mua bán tàng trữ, vận chuyển lâm sản trái phép 15 vụ; vi lâm sản tịch thu 44,89 m3 gỗ các loại, thu nộp ngân sách 168 triệu đồng. Tính chung 4 tháng đã phát hiện và xử lý 180 vụ vi phạm lâm luật, tịch thu 265,6 m3 gỗ các loại, thu nộp ngân sách 818 triệu đồng.

3. Sản xuất thủy sản

Diện tích nuôi trồng thủy sản (không kể lồng, bè, bể, bồn) tháng 4 ước đạt 1.812 ha, lũy kế 4 tháng diện tích nuôi trồng thủy sản ước đạt 18.265 ha, tăng 0,25% (+45 ha), trong đó diện tích nuôi cá 16.960 ha, diện tích nuôi tôm 1.118 ha, diện tích thủy sản khác 187 ha.

Tháng 4 là tháng bắt đầu vụ cá nam, thời tiết thuận lợi tạo điều kiện cho ngư dân ra khơi đánh bắt nên sản lượng thủy sản khai thác tháng này ước đạt 17.674 tấn, tăng 11,47% (+1.818 tấn) so với tháng 4/2018, đưa sản lượng thủy sản khai thác 4 tháng ước đạt 48.435 tấn, tăng 11,15% (+4.859 tấn) so với cùng kỳ năm trước.

Sản lượng nuôi trồng tháng 4 ước đạt 3.697 tấn, lũy kế 4 tháng ước đạt 16.401 tấn, tăng 4,98% (+778 tấn). Tính chung cả khai thác và nuôi trồng sản lượng thủy sản tháng 4 năm 2019 ước đạt 21.371 tấn, tăng 10,3% (+1.995 tấn) so với tháng 4/2018, đưa sản lượng thủy sản 4 tháng ước đạt 64.836 tấn, tăng 9,52% (+5.637 tấn) so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng cá ước đạt 54.037 tấn, tăng 8,34%, sản lượng tôm 841 tấn, tăng 12,43%, thủy sản khác 9.958 tấn, tăng 16,11%.

Ngoài ra ngành thủy sản đã tổ chức tốt công tác kiểm dịch giống, chuẩn bị nguồn giống sạch để đáp ứng nhu cầu nuôi thả của nhân dân. Trong tháng 4 đã sản xuất và cung cấp được 401 triệu con giống, đưa sản lượng giống 4 tháng ước đạt 1.116 triệu con, trong đó cá 242 triệu con, tôm 806 triệu con, thủy sản khác 68 triệu con. Chỉ đạo các hộ nuôi tôm cải tạo vệ sinh khử trùng ao hồ, gia cố bờ bao, phơi đáy, lót bạt để chuẩn bị cho việc thả nuôi tôm vụ 1 năm 2019 theo đúng Thông tư 26/2018/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp & phát triển nông thôn.

4. Sản xuất công nghiệp

Ngành công nghiệp Nghệ An những tháng đầu năm phát triển chậm hơn kịch bản tăng trưởng đề ra, nguyên nhân nhiều ngành chủ lực đã khai thác tối đa công suất, không có sản phẩm mới đủ lớn để bứt tốc. Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 4/2019 tăng 8,64% so với cùng kỳ năm trước. Bao gồm công nghiệp khai khoáng tăng 0,21%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,46% (trong đó có một số ngành tăng khá như sản xuất và chế biến thực phẩm tăng 18,12%, chế biến gỗ và sản phẩm từ gỗ tăng 14,93%, sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại tăng 27,59%, sản xuất sản phẩm điện tử tăng 54,62%); sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 6,73%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,7%.

                Nhiều sản phẩm chủ yếu trong tháng có mức tăng khá so với cùng kỳ năm trước như sữa chua 3.541,3 tấn, tăng 24,76%; đường kính 17,07 nghìn tấn, tăng 140,29%; thức ăn gia súc 8.766 tấn, tăng 19,78%; bia chai 7.074 nghìn lít, tăng 87,49%; quần áo không dệt kim 533,4 nghìn cái, tăng 22,54%; vỏ bào, dăm gỗ 41,91 nghìn tấn, tăng 45,52%; bao bì 4.367 nghìn chiếc, tăng 53,15%; thùng carton 3.694 nghìn chiếc, tăng 20,05%; xi măng 565 nghìn tấn, tăng 36,32%; loa 11 triệu chiếc, tăng 54,62%; tủ gỗ 4485 chiếc, tăng 33,02%;... Tuy nhiên trong tháng có một số sản phẩm chủ yếu giảm sút như đá xây dựng giảm 10,17%; bia đóng lon giảm 10,67%; áo sơ mi giảm 23,08%; phân NPK giảm 64,6%; tôn hoa sen giảm 27,89%;…

Tính chung 4 tháng đầu năm 2019 chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 7,86% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm công nghiệp khai khoáng giảm 2,45%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 8,85% (sản xuất chế biến thực phẩm tăng 12,44%, sản xuất đồ uống tăng 18,38%, chế biến gỗ tăng 16,33%, in ấn tăng 17,52%, sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại tăng 30,46%); công nghiệp sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 5,16%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,89%. Nguyên nhân chỉ số ngành khai khoáng giảm do tài nguyên, khoáng sản ngày càng cạn kiệt, thuê đất mỏ, thuế tài nguyên tăng, khai thác gặp nhiều khó khăn; nguyên nhân công nghiệp chế biến, chế tạo tăng thấp do một số ngành bị ảnh hưởng của cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung nên chỉ số sản xuất giảm như may mặc, hóa chất, sản xuất kim loại.

Bốn tháng đầu năm một số sản phẩm chủ yếu có mức tăng khá so với cùng kỳ năm trước như sữa chua 10,75 nghìn tấn, tăng 14,01%; thức ăn gia súc 40,07 nghìn tấn, tăng 17,27%; bia chai 21,79 triệu lít, tăng 67,87%; quấn áo không dệt kim 2.039 nghìn cái, tăng 15,41%; vỏ bào, dăm gỗ 166,03 nghìn tấn, tăng 27,71%; bao bì 17,35 triệu chiếc, tăng 70,22%; sản phẩm in 2.187 triệu trang, tăng 17,52%; xi măng 1.856 nghìn tấn, tăng 44,99%; cửa bằng sắt thép 458,3 nghìn m2, tăng 20,49 %; … Tuy nhiên trong kỳ có nhiều sản phẩm chủ yếu giảm sút như đá xây dựng giảm 15,14%; sợi giảm 20,84%; áo sơ mi giảm 9,95%; phân NPK giảm 44,65%; ống thép Hoa sen giảm 41,45%; Tôn Hoa sen giảm 23,31%;…

5. Đầu tư và xây dựng

                Những tháng đầu năm 2019 lĩnh vực đầu tư xây dựng phát triển khá, tuy nhiên trong khu vực nhà nước vốn đầu tư phát triển chậm. Tháng 4/2019 vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 421,2 tỷ đồng, giảm 0,47% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó thực hiện vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 179,5 tỷ đồng, tăng 6,31%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện ước đạt 156,1 tỷ đồng, giảm 4,43%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 85,5 tỷ đồng, giảm 5,94%. Tính chung 4 tháng đầu năm vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 1.692,6 tỷ đồng, giảm 2,02% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 725,4 tỷ đồng, giảm 1,1%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện 604,9 tỷ đồng, giảm 5,23%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã 362,3 tỷ đồng, tăng 1,83%.

                Một số công trình có vốn đầu tư lớn thực hiện trong kỳ như Tiểu dự án phát triển Thành phố Vinh; đường N5 KTT Đông Nam; Khôi phục vùng ngập lũ Nghệ An; Đường giao thông Châu Quang, Châu Cường, Quỳ Hợp; Nhà giảng đường Trường Đại học Y khoa Vinh; Đường giao thông 533 nối đường Hồ Chí Minh; Đường giao thông 534 đi Đại Sơn, Đô Lương; Xây dựng kè chống sạt lở bờ sông Lam; Kè chống sạt lở sông Nam Cấm; Hạ tầng cụm công nghiệp Bồng Khê, Con Cuông; Khu Tái định cư Nghi Yên, Nghi Lộc; Công viên Thanh thiếu niên thuộc Quần thể lưu niệm Cố Tổng bí thư Lê Hồng Phong; Đường từ Trung tâm huyện Thanh Chương đi Khu tái định cư Thủy điện Bản Vẽ; Sửa chữa nâng cao an toàn đập WB8; Sửa chữa, nâng cấp hệ thống tưới Diễn Thọ, Diễn Lợi; Sửa chữa, nâng cấp hồ chứa nước Cửa Ông, Nam Đàn; Cầu tràn Đồng Hợp, Quỳ Hợp; Bảo tồn, tôn tạo Đền Quả Sơn; Trường THCS phường Quán Bàu;…

                6. Thu chi ngân sách

Tổng thu ngân sách trên địa bàn tỉnh 4 tháng đầu năm 2019 ước đạt 4.688,3 tỷ đồng, bằng 34,73% dự toán cả năm và tăng 19,01% so với cùng kỳ năm trước, trong đó thu nội địa ước đạt 4.128,3 tỷ đồng, bằng 34,99% dự toán và tăng 22,37% (nếu không kể thu tiền sử dụng đất thì thu nội địa ước đạt 3.159,5 tỷ đồng, tăng 17,29%). Thu ngân sách 4 tháng năm nay tăng cao hơn 4 tháng của năm 2018 (4 tháng năm 2018 tăng 3,47%). Một số khoản thu so với cùng kỳ tăng khá như: Thu từ khu vực CTN-DV ngoài quốc doanh ước đạt 1.480,6 tỷ đồng,  bằng 32,97% dự toán và tăng 17,05%; Thu lệ phí trước bạ ước đạt 283,9 tỷ đồng, bằng 38,36% dự toán và tăng 28,21%; Thu thuế bảo vệ môi trường ước đạt 420,4 tỷ đồng, bằng 26,11% dự toán và tăng 32,86%; Thu phí và lệ phí ước đạt 101,3 tỷ đồng, bằng 39,72% dự toán và tăng 18,58%; Thu tiền sử dụng đất ước đạt 968,8 tỷ đồng, bằng 41,05% dự toán và tăng 42,48%; Thu cấp quyền khai thác khoáng sản ước đạt 122,7 tỷ đồng, bằng 76,69% dự toán và tăng 69,18%. Tuy nhiên có nhiều khoản thuế đạt thấp như Thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giảm 21,08%; Thuế thu nhập cá nhân giảm 0,63%; thu từ hoạt động xuất nhập khẩu giảm 1,0%.

Tổng chi ngân sách 4 tháng ước đạt 8.064,5 tỷ đồng, bằng 33,13% dự toán. Trong đó chi đầu tư phát triển 2.050 tỷ đồng, bằng 39,47% dự toán; chi thường xuyên 5.944,5 tỷ đồng, bằng 31,72% dự toán. Các khoản chi quan trọng trong chi thường xuyên đều bảo đảm như: Chi sự nghiệp kinh tế 642,6 tỷ đồng, bằng 34,3% dự toán; chi sự nghiệp giáo dục đào tạo 2.598 tỷ đồng, bằng 32,29% dự toán; chi sự nghiệp y tế 637,8 tỷ đồng, bằng 30,24%; chi đảm bảo xã hội 403 tỷ đồng, bằng 34,78% dự toán và chi quản lý hành chính 1.130,1 tỷ đồng, bằng 33,15% dự toán. Các khoản chi đầu năm chủ yếu tập trung chi lương và các khoản có tính chất lương, chi thăm hỏi chúc Tết các đối tượng chính sách, chi mừng thọ, chi hỗ trợ hộ nghèo,…

7. Thương mại, giá cả

Tổng mức bán lẻ hàng hóa tháng 4/2019 theo giá hiện hành ước đạt 5.163,2 tỷ đồng, tăng 16,55% so với cùng tháng năm trước đưa tổng mức bán lẻ hàng hóa 4 tháng đầu năm 2019 ước đạt 20.331,8 tỷ đồng, tăng 13,55% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó thành phần kinh tế nhà nước 729,9 tỷ đồng, tăng 0,21%; thành phần kinh tế tư nhân 8.331 tỷ đồng, tăng 17,85%; thành phần kinh tế cá thể 11.102,6 tỷ đồng, tăng 11,68%, thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 156,1 tỷ đồng. Chia theo nhóm hàng bán lẻ thì nhóm lương thực, thực phẩm chiếm tỷ trọng lớn nhất với doanh thu 4 tháng ước đạt 6.600,3 tỷ đồng (chiếm 32,46% tổng số), tăng 15,33% so với cùng kỳ năm trước; nhóm đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình 2.600,6 tỷ đồng, tăng 11,29%; hàng may mặc 1.284,9 tỷ đồng, tăng 9,83%; ô tô các loại 3.056,3 tỷ đồng, tăng 10,5%; phương tiện đi lại (trừ ô tô) 1.484,1 tỷ đồng, tăng 11,99%; xăng dầu 1.885,3 tỷ đồng, tăng 25,27%....

Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tháng 4/2019 ước đạt 802,6 tỷ đồng, tăng 16,97% so với cùng kỳ năm trước. Cộng dồn 4 tháng doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước đạt 2.904,5 tỷ đồng, tăng 13,99% so với cùng kỳ năm trước; trong đó dịch vụ lưu trú phục vụ 1.854,8 nghìn lượt khách, tăng 11,9% so với cùng kỳ năm trước (1.350 nghìn lượt khách ngủ qua đêm) với doanh thu dịch vụ lưu trú 421,7 tỷ đồng, tăng 12,42%; doanh thu dịch vụ ăn uống 2.428,9 tỷ đồng, tăng 14,38%; doanh thu dịch vụ du lịch lữ hành 54 tỷ đồng, tăng 9,15%.

Doanh thu hoạt động dịch vụ khác (trừ dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành) tháng 4/2019 ước đạt 498,9 tỷ đồng, tăng 10,26% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 4 tháng/2019 ước đạt 1.965,3 tỷ đồng, tăng 10,29%; trong đó kinh doanh bất động sản 723,1 tỷ đồng, tăng 4,32%; dịch vụ hành chính 334,2 tỷ đồng, tăng 8,32%; dịch vụ y tế 335,9 tỷ đồng, tăng 18,94% do điều chỉnh giá dịch vụ Y tế theo thông tư 39/2018/TT-BYT; dịch vụ vui chơi giải trí 156,6 tỷ đồng, tăng 18,12%…

Giá cả thị trường: Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 4 năm 2019 tăng 0,26% so với tháng trước, tăng 0,66% so với tháng 12/2018 và tăng 2,37% so với cùng kỳ năm trước. 5/11 nhóm hàng hóa, dịch vụ có chỉ số giá tăng và tăng nhiều nhất là nhóm văn hóa, giải trí và du lịch với mức tăng 3,85% do thời tiết nắng nóng, khách đi nghỉ ở Cửa Lò tăng, giá phòng khách sạn, nhà nghỉ tăng 8,13%; nhóm giao thông tăng 3,43% do trong kỳ có 2 lần điều chỉnh giá xăng dầu, theo đó giá xăng E5 tăng 10,65%, xăng RON 95 tăng 10,58%, dầu diesel tăng 8,44%; Tuy nhiên có 3/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm và giảm nhiều nhất là nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,74% (trong đó lương thực giảm 0,96%, thực phẩm giảm 0,89%); nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,54% ; nhóm may mặc, mũ nón và giày dép giảm 0,46%. Có 3 nhóm đứng giá là Thuốc và dịch vụ y tế; nhóm bưu chính viễn thông và nhóm giáo dục.

Như vậy bình quân 4 tháng năm 2019 chỉ số giá tiêu dùng CPI tăng 2,07% so với cùng kỳ, tăng cao nhất là nhóm giáo dục với mức tăng 5,13%; nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,7% (trong đó lương thực tăng 0,49%, thực phẩm tăng 5,15%); nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 2,66%; nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 2,43%.

Không nằm trong rổ hàng hóa để tính CPI, giá vàng so với tháng trước giảm 0,66%, so với tháng 12/2018 tăng 1,57%, so với cùng kỳ năm trước giảm 1,99%; chỉ số đô la Mỹ giảm 0,04% so với tháng trước, giảm 0,63% so với tháng 12/2018 và tăng 1,96% so với cùng kỳ năm trước.

8. Vận tải

Vận chuyển hành khách tháng 4/2019 ước đạt 9.390 nghìn lượt khách và 764,8 triệu lượt khách.km. So với cùng kỳ năm trước hành khách vận chuyển tăng 16,61% và hành khách luân chuyển tăng 16,78%. Tính chung 4 tháng khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 34,11 triệu lượt khách, tăng 14,74% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng hành khách luân chuyển 2.775,7 triệu lượt khách.km, tăng 15,01%.

Khối lượng vận chuyển hành khách tháng này tăng 9,19% và luân chuyển tăng 9,27% so với tháng 3 do nhu cầu đi lại của nhân dân tăng cao nhất là cán bộ, công chức, học sinh, sinh viên được nghỉ lễ dịp giỗ tổ Hùng Vương và ngày 30/4 về thăm nhà cùng với việc khai trương mùa du lịch Cửa Lò nên có nhiều khách du lịch tham quan tắm biển.

Vận tải hàng hóa tháng 4/2019 ước đạt 7.444,7 nghìn tấn và 298,9 triệu tấn.km. So với tháng 4/2018 khối lượng vận chuyển hàng hóa tăng 15,74%, khối lượng luân chuyển hàng hóa tăng 15,70%. Tính chung 4 tháng đầu năm khối lượng vận chuyển hàng hóa ước đạt 28,54 triệu tấn, tăng 12,57% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển hàng hóa 1.178,5 triệu tấn.km, tăng 10,06%. Khối lượng vận chuyển và luân chuyển hàng hóa 4 tháng tăng khá do trong kỳ các đơn vị kinh doanh vận tải ký được nhiều hợp đồng hơn để vận chuyển lương thực, thực phẩm, đồ dùng và trang thiết bị gia đình, mặt khác nhiều công trình xây dựng được khởi công và đẩy mạnh thi công nên việc vận chuyển vật liệu vật liệu xây dựng tăng.

Doanh thu vận tải, bốc xếp tháng 4 ước đạt 903,3 tỷ đồng đưa doanh thu 4 tháng ước đạt 3.435,7 tỷ đồng, tăng 14,09% so với cùng kỳ năm trước, trong đó doanh thu vận tải hàng hóa 2.152,1 tỷ đồng, tăng 12,21%; doanh thu vận tải hành khách 850,7 tỷ đồng, tăng 20,03% và doanh thu bốc xếp dịch vụ vận tải 432,9 tỷ đồng, tăng 12,52%.

9. Một số vấn đề xã hội

a. Dịch bệnh

Trong kỳ từ ngày 10/3/2019 đến 10/4/2019 trên địa bàn toàn tỉnh đã xẩy ra 696 ca tiêu chảy ở các huyện: Thành phố Vinh 138 ca, Tương Dương 106 ca, Quế Phong 71 ca, Kỳ Sơn 51 ca, Diễn Châu 44 ca, Hưng Nguyên 41 ca, Hoàng Mai 36 ca,...; Sốt rét xảy ra 5 ca ở Kỳ Sơn, Con Cuông; Ngộ độc xảy ra 1 vụ 7 người ở Diễn Châu. Cộng dồn 4 tháng đầu năm đã xảy ra 2.929 ca tiêu chảy, 20 ca sốt rét, 1 ca sốt xuất huyết, 2 vụ ngộ độc. So với cùng kỳ năm trước số ca tiêu chảy giảm 4,53% (-138 ca), sốt rét giảm 20% (-5 ca). Nguyên nhân chính gây ra các vụ tiêu chảy và ngộ độc là do uống bia rượu nhiều, ăn các thức ăn chế biến có ướp hoá chất, rau hoa quả phun thuốc sâu và thuốc kích thích. Nguyên nhân xảy ra sốt rét do ý thức của người dân trong việc phòng chống muỗi Anophen, để cho muỗi truyền ký sinh trùng từ người này qua người khác.

                Tình hình nhiễm HIV/AIDS: Đến ngày 31/01/2019 số người bị nhiễm HIV được phát hiện trên toàn tỉnh là 12.005 người, trong đó có 9.766 người trong tỉnh. Căn bệnh HIV đã xảy ra ở 449/480 xã/phường/thị trấn của 21 huyện/thành phố/thị xã. Trong tổng số người nhiễm HIV đã có 7.036 người chuyển sang bệnh AIDS và đã tử vong 4.248 người.

                b. Trật tự an toàn xã hội

Tính từ 10/3/2019 đến 10/4/2019 trên địa bàn tỉnh xảy ra 77 vụ, bắt giữ 80 đối tượng phạm pháp kinh tế chủ yếu là buôn bán hàng cấm, hàng nhập lậu thu giữ 40 kg da động vật không có nguồn gốc, 2 cá thể hổ, 7.334 con gà, 6.500 quả trừng, 1 tấn mỡ động vật, 22 kg nội tạng và nhiều hàng hóa khác. Tính chung 4 tháng đầu năm xảy ra 543 vụ, bắt giữ 608 đối tượng. So với cùng kỳ năm trước số vụ tăng 0,18% (+1 vụ) nhưng số đối tượng giảm 11,88% (-82 đối tượng).

Phạm pháp hình sự xảy ra 120 vụ với 209 đối tượng chủ yếu là trộm cắp, cướp giật tài sản công dân làm mất 5 xe máy, 2 máy tính xách tay, nhiều điện thoại di động và nhiều tài sản khác. Cộng dồn 4 tháng đầu năm xảy ra 469 vụ với 770 đối tượng. So với cùng kỳ năm trước số vụ tăng 1,74% (+8 vụ) nhưng số đối tượng giảm 0,13% (-1 đối tượng).

Trong tháng đã bắt giữ 83 vụ 100 đối tượng buôn bán, tàng trữ, vận chuyển ma tuý, thu giữ 6 bánh, 876,42 gam hêroin, 5 kg ma túy đá, 27.612 viên ma túy tổng hợp. Tính chung 4 tháng đầu năm bắt giữ 320 vụ 355 đối tượng. So cùng kỳ năm trước số vụ tăng 22,61% (+59 vụ), số đối tượng tăng 15,64% (+48 đối tượng).

Trong tháng phát hiện 36 vụ 42 đối tượng sử dụng ma túy. Trong đó: Thành phố Vinh 7 vụ 7 đối tượng, Cửa Lò 9 vụ 9 đối tượng, Diễn Châu 4 vụ 10 đối tượng,...; 6 vụ 15 đối tượng hoạt động mại dâm ở Thành phố Vinh, Diễn Châu. Cộng dồn 4 tháng đầu năm phát hiện 165 vụ 183 đối tượng sử dụng ma túy, 12 vụ 26 đối tượng hoạt động mại dâm. So với cùng kỳ năm trước số vụ sử dụng ma túy tăng 21,32% (+29 vụ), số đối tượng tăng 12,96% (+21 đối tượng); hoạt động mại dâm giảm 3 vụ, giảm 8 đối tượng.

Trong kỳ xẩy ra 33 vụ tai nạn giao thông, làm chết 16 người, bị thương 33 người, ước giá trị thiệt hại 870 triệu đồng. Tính chung 4 tháng đầu năm xảy ra 145 vụ tai nạn giao thông, làm chết 62 người, bị thương 123 người. So với cùng kỳ năm trước số vụ giảm 6,45% (-10 vụ), số người chết giảm 20,51% (-16 người), số người bị thương giảm 21,66% (-34 người).

Trong tháng phát hiện 73 vụ đánh bạc thu giữ 234,7 triệu đồng và nhiều tài sản khác. Tính chung 4 tháng phát hiện 121 vụ đánh bạc thu giữ 773,7 triệu đồng và nhiều tài sản khác.

Ngoài ra trong tháng xảy ra 2 vụ cháy làm 1 người chết và 9 người bị thương, thiệt hại 2,12 tỷ đồng; phát hiện 4 vụ vi phạm môi trường, các ngành chức năng xử phạt 17 triệu đồng. Cộng dồn 4 tháng đầu năm xảy ra 11 vụ cháy làm 1 người chết và 9 người bị thương, thiệt hại 18,06 tỷ đồng; phát hiện 80 vụ vi phạm môi trường, xử phạt hành chính 88 triệu đồng./.

                                                Nguồn: Thái Bá Minh, Cục Thống kê tỉnh Nghệ An

 |  Đầu trang
 
<<   <  1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  ...  >  >>
 
 
 
Thông báo
Skip portletPortlet Menu
 
 
 
Thư viện ảnh
Skip portletPortlet Menu