Giới thiệu chung
Skip portletPortlet Menu
 
Tin tức - Sự kiện
Skip portletPortlet Menu
 
Lĩnh vực chuyên môn
Skip portletPortlet Menu
 
 
Liên kết website
Skip portletPortlet Menu
 
 
 
Tình hình kinh tế - xã hội quý II và 6 tháng đầu năm 2019 tỉnh Nghệ An (28/06/2019 10:07 AM)

A.     TÌNH HÌNH KINH TẾ

1. Tăng trưởng kinh tế

Tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP) 6 tháng/2019 theo giá so sánh 2010 ước đạt 40.651 tỷ đồng, tăng 7,09% so với 6 tháng/2018, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản ước đạt 9.181,2 tỷ đồng, tăng 3,92%; khu vực công nghiệp, xây dựng 11.627,7 tỷ đồng, tăng 8,80%; khu vực dịch vụ 17.408,7 tỷ đồng, tăng 7,48% và thuế sản phẩm 2.433,4 tỷ đồng tăng 8,56%. Tốc độ tăng trưởng kinh tế 6 tháng năm nay thấp hơn tốc độ tăng của 6 tháng những năm gần đây (6 tháng/2017 tăng 7,27%, 6 tháng/2018 tăng 7,39%). Khu vực dịch vụ và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm có tốc độ tăng cao hơn cùng kỳ năm trước, tuy nhiên khu vực Nông, lâm nghiệp, thủy sản và khu vực Công nghiệp, xây dựng lại có tốc độ tăng thấp hơn.

Trong 7,09% mức tăng trưởng chung, khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản đã đóng góp 0,91 điểm % thấp hơn mức đóng góp của 6 tháng/2018 (1,11 điểm %); khu vực công nghiệp, xây dựng đóng góp 2,48 điểm % (6 tháng/2018 đóng góp 2,98 điểm %); khu vực dịch vụ đóng góp 3,19 điểm % (6 tháng/2018 đóng góp 3,09 điểm %); thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm đóng góp được 0,51 điểm %, (6 tháng/2018 đóng góp 0,21 điểm %).

                                                                             Tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP)

(Theo giá so sánh 2010)

 

6 tháng/2019 (Tỷ đồng)

So sánh với cùng kỳ năm trước (%)

Mức đóng góp vào tăng trưởng chung (%)

Tổng số

40.651,0

107,09

7,09

- Nông, lâm nghiệp, thủy sản

9.181,2

103,92

0,91

- Công nghiệp, xây dựng

11.627,7

108,80

2,48

          Trong đó: Công nghiệp

7.015,7

109,07

1,54

- Dịch vụ

17.408,7

107,48

3,19

- Thuế sản phẩm – trợ cấp sp

2.433,4

108,56

0,51

                Khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản tăng khá trong bối cảnh dịch tả Lợn Châu Phi đang diễn biến phức tạp (18/21 huyện có dịch) với mức tăng 3,92% thấp hơn mức tăng của cùng kỳ năm trước (6 tháng/2018 tăng 4,99%), trong đó ngành nông nghiệp chiếm tỷ trọng gần 80% của toàn khu vực tăng 3,15%, thấp hơn 6 tháng 2018 (3,88%) do sản phẩm trồng trọt chủ yếu trong 6 tháng tăng thấp hoặc giảm như thóc giảm 1,07%, ngô tăng 2,18%, khoai lang tăng 2,86%, lạc giảm 7,13%, rau các loại giảm 2,44%, vừng giảm 3,49%,… Bên cạnh đó ngành chăn nuôi do ảnh hưởng của Dịch tả Lợn, giá thịt lợn hơi giảm nên sản lượng thịt xuất chuồng có tăng chậm lại làm ảnh hưởng đến tốc độ tăng của ngành nông nghiệp. Còn lại 2 ngành lâm nghiệp và thủy sản tuy tỷ trọng ít hơn nhưng có mức tăng khá, trong đó ngành lâm nghiệp tăng 4,62% do trong kỳ sản lượng lâm sản khai thác tăng so với cùng kỳ năm trước và ngành thủy sản tăng 9,27% do sản lượng nuôi trồng và đánh bắt tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước. So với kế hoạch và kịch bản 6 tháng (tăng 5%) đề ra thì ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản không đạt, để cả năm hoàn thành kế hoạch tăng trưởng thì ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản 6 tháng cuối năm phải tăng 6,19%, đây là một nhiệm vụ rất khó khăn.

Khu vực công nghiệp, xây dựng giá trị tăng thêm tăng 8,80% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn mức tăng của những năm gần đây (6 tháng năm 2018 tăng 10,06%; 6 tháng năm 2017 tăng 9,89%; 6 tháng năm 2016 tăng 8,87%) do trong kỳ ngành công nghiệp không có sản phẩm mới và một số sản phẩm chủ lực đã khai thác hết công suất như sữa, đường kính, bia, thủy điện cùng với tôn thép giảm mạnh nên giá trị tăng thêm của ngành công nghiệp chỉ tăng 9,07%, thấp thua xa so với kế hoạch cả năm (tăng 18%) và kịch bản 6 tháng đề ra (tăng 16,25%). Ngành xây dựng 6 tháng năm nay phát triển khá chủ yếu do phát triển của doanh nghiệp ngoài nhà nước và xây dựng dân cư nên giá trị tăng thêm tăng 8,38% (6 tháng 2018 tăng 5,35%); so với kế hoạch cả năm (tăng 10%) và kịch bản 6 tháng đề ra (tăng 9%) thì ngành xây dựng gần đạt, do đó khả năng ngành xây dựng năm 2019 sẽ đạt kế hoạch đề ra.

Khu vực dịch vụ 6 tháng/2019 tăng 7,48% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mức tăng của những năm gần đây (6 tháng/2018 tăng 7,09%, 6 tháng/2017 tăng 7,21%). Các ngành chủ yếu sử dụng ngân sách nhà nước (Đảng, đoàn thể, QLNN, QPAN, Giáo dục, Y tế, KHCN,…) phụ thuộc vào mức tăng của chi thường xuyên nên có mức tăng vừa phải như Hoạt động Đảng, Tổ chức chính trị xã hội, Quản lý nhà nước, QPAN, đảm bảo XHBB 6 tháng đầu năm 2019 chỉ tăng 5,76%; Giáo dục và đào tạo tăng 7,01%; Y tế tăng 6,88%; Chuyên môn, KHCN tăng 6,31%. Các ngành kinh doanh tiếp tục phát triển mạnh do doanh thu các ngành dịch vụ tăng cao như ngành bán buôn, bán lẻ giá trị tăng thêm 6 tháng/2019 tăng 9,85%; Vận tải, kho bãi tăng 10,78%; Lưu trú và ăn uống tăng 6,97%; Thông tin và truyền thông tăng 8,55%; Tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 7,76%. So với kế hoạch cả năm (tăng 7,2%) và kịch bản tăng trưởng 6 tháng (tăng 7,1%) thì khu vực dịch vụ vượt kế hoạch đề ra. Do đó khả năng khu vực dịch vụ năm 2019 sẽ đạt kế hoạch đề ra.

Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng khá với mức tăng 8,56% cao hơn mức tăng của cùng kỳ năm trước (6 tháng 2018 tăng 6,15%) do thu ngân sách 6 tháng/2019 tăng khá nhất là các khoản thu của doanh nghiệp, cá thể thuộc dòng thuế sản phẩm như thuế VAT, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế XNK.

Cơ cấu kinh tế 6 tháng/2019 chuyển dịch đúng hướng; ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản giảm từ 24,02% (6 tháng năm 2018) xuống còn 23,8% (6 tháng năm 2019); ngành công nghiệp, xây dựng tăng từ 26,98% lên 27,16%; ngành dịch vụ giảm từ 43,09% xuống 43,06%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng từ 5,91% lên 5,99%.

2. Tài chính, ngân hàng, bảo hiểm

Tổng thu ngân sách trên địa bàn tỉnh 6 tháng đầu năm 2019 ước đạt 7.180,5 tỷ đồng, bằng 53,2% dự toán cả năm và tăng 17,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó thu nội địa ước đạt 6.330,5 tỷ đồng, bằng 53,7% dự toán và tăng 19,8%. Thu ngân sách 6 tháng năm nay tăng cao hơn mức tăng của những năm gần đây (6 tháng/2017 tăng 15,66%; 6 tháng 2018 tăng 10,17%). Nhiều khoản thu so với dự toán đạt khá và tăng cao so với cùng kỳ như: Thu từ khu vực CTN-DV ngoài quốc doanh 2.234 tỷ đồng, bằng 49,8% dự toán và tăng 16,1%; Thu thuế trước bạ 439,7 tỷ đồng, bằng 59,4% dự toán và tăng 28,6%; Thu thuế bảo vệ môi trường 771 tỷ đồng, bằng 47,9% dự toán và tăng 59,1%; Thu tiền sử dụng đất 1.468,9 tỷ đồng, bằng 62,2% dự toán và tăng 24,4%. Tuy nhiên có một số khoản thu so với cùng kỳ giảm như: Thu từ doanh nghiệp Trung ương quản lý giảm 0,1%; Thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giảm 12,6%.

Tổng chi ngân sách 6 tháng ước đạt 12.214,4 tỷ đồng, bằng 50,2% dự toán. Trong đó chi đầu tư phát triển 3.210,8 tỷ đồng, bằng 61,8% dự toán; chi thường xuyên 8.863,6 tỷ đồng, bằng 47,4% dự toán. Các khoản chi quan trọng trong chi thường xuyên đều bảo đảm như: Chi sự nghiệp kinh tế 905 tỷ đồng, bằng 48,3% dự toán; chi sự nghiệp giáo dục đào tạo 3.985 tỷ đồng, bằng 49,5% dự toán; chi sự nghiệp y tế 950 tỷ đồng, bằng 45,0%; chi đảm bảo xã hội 590 tỷ đồng, bằng 50,9% dự toán và chi quản lý hành chính 1.680 tỷ đồng, bằng 49,3% dự toán. Các khoản chi đầu năm chủ yếu tập trung chi lương và các khoản có tính chất lương, chi thăm hỏi chúc Tết các đối tượng chính sách, chi mừng thọ, chi hỗ trợ hộ nghèo,…

Trong 6 tháng đầu năm 2019, nguồn vốn huy động trên địa bàn tăng khá và tăng hầu hết ở các tổ chức tín dụng, tính đến 30/6/2019 nguồn vốn huy động trên địa bàn ước đạt 129.133 tỷ đồng, tăng 7,1% so với đầu năm (+8.502 tỷ đồng); chủ yếu tăng nguồn tiền gửi tiết kiệm do khối lượng tiền nhàn rỗi trong dân nhiều. Dư nợ cho vay trên địa bàn ước đạt 203.135 tỷ đồng, tăng 5,5% so với đầu năm (+10.590 tỷ đồng), trong đó cho vay trung và dài hạn ước đạt 92.431 tỷ đồng, chiếm 50,3% tổng dư nợ. Nợ xấu tại các tổ chức tín dụng trên địa bàn ước đạt 1.862 tỷ đồng, chiếm 0,9% tổng dư nợ.

Ước tính đến 30/6/2019, tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt 89,5% dân số; toàn tỉnh có 221.372 người tham gia BHXH bắt buộc; 2.825.629 người tham gia BHYT; 39.252 người tham gia BHXH tự nguyện.

3. Giá cả thị trường

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 6 năm 2019 giảm 0,09% so với tháng trước, tăng 1,06% so với tháng 12/2018 và tăng 1,47% so với cùng kỳ năm trước. 3/11 nhóm hàng hóa, dịch vụ có chỉ số giá giảm và giảm nhiều nhất là nhóm nhóm giao thông giảm 0,85% do trong kỳ có 2 lần điều chỉnh giá xăng dầu, theo đó giá xăng E5 giảm 3,56%, xăng RON 95 giảm 5,01%, dầu diesel giảm 3,17%; nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,31% do giá gas giảm 33 nghìn đồng/bình 12 kg, giá dầu hỏa giảm 3,29%; nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,16% (lương thực giảm 0,33%, thực phẩm giảm 0,2%); Tuy nhiên trong tháng có 5/11 nhóm hàng hóa, dịch vụ có chỉ số giá tăng và tăng nhiều nhất là nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 1,31% do thời tiết nắng nóng giá khách sạn, nhà nghỉ tại Thị xã Cửa Lò tăng 1,9%, giá truyền hình cáp tăng 8,74%. Có 3 nhóm đứng giá là Thuốc và dịch vụ y tế; nhóm bưu chính viễn thông và nhóm giáo dục.

Như vậy bình quân 6 tháng năm 2019 chỉ số giá tiêu dùng CPI tăng 1,99% so với cùng kỳ, tăng cao nhất là nhóm giáo dục với mức tăng 5,15%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 3,44%; nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,08% (trong đó lương thực tăng 0,11%, thực phẩm tăng 4,28%); nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 2,31%.

Giá vàng so với tháng trước tăng 1,51%, so với tháng 12/2018 tăng 2,46%, so với cùng kỳ năm trước tăng 0,92%; chỉ số đô la Mỹ tăng 0,29% so với tháng trước, giảm 0,06% so với tháng 12/2018 và tăng 2,26% so với cùng kỳ năm trước.

4. Đầu tư và xây dựng

                Sáu tháng đầu năm 2019 lĩnh vực đầu tư xây dựng phát triển khá, tuy nhiên trong khu vực nhà nước vốn đầu tư phát triển thấp so với kế hoạch và cùng kỳ năm trước. Vốn đầu tư phát triển quý II/2019 thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 1.280,3 tỷ đồng, cộng dồn 6 tháng đầu năm ước đạt 2.551,7 tỷ đồng, giảm 4,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 1.087,2 tỷ đồng, giảm 4,75%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện 912 tỷ đồng, giảm 4,83% và cấp xã 552,6 tỷ đồng, giảm 1,52%.

                Ước tính tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn quý II/2019 đạt 16.593,3 tỷ đồng đưa 6 tháng năm 2019 đạt 30.175,9 tỷ đồng, tăng 12,28% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó vốn nhà nước ước đạt 6.484,1 tỷ đồng, tăng 7,03% (Trung ương quản lý tăng 5,29%, địa phương quản lý tăng 7,98%); vốn ngoài nhà nước 23.269,4 tỷ đồng, tăng 14,19% (vốn doanh nghiệp tăng 29,57%, vốn dân cư tăng 6,12%); vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 422,4 tỷ đồng. Khi phân theo khoản mục đầu tư thì vốn đầu tư xây dựng cơ bản 6 tháng 2019 ước đạt 26.794,9 tỷ đồng, chiếm 88,8% tổng vốn, tăng 8,04% so với cùng kỳ năm trước; vốn mua sắm tài sản cố định 1.282,8 tỷ đồng, tăng 101,46%; vốn sửa chữa lớn, nâng cấp TSCĐ 1.205,4 tỷ đồng, tăng 63,91%; bổ sung vốn lưu động 705 tỷ đồng, tăng 35,61%;…

                Vốn đầu tư thực hiện trong kỳ chủ yếu tập trung vào các công trình chuyển tiếp từ năm 2018 sang như Tiểu dự án phát triển Thành phố Vinh; đường N5 KTT Đông Nam; đường nối QL1A đi Thị xã Thái Hòa; đường Mường Xén – Khe Kiền; đại lộ Vinh – Cửa Lò; Khôi phục vùng ngập lũ Nghệ An; Đường giao thông Châu Quang, Châu Cường, Quỳ Hợp; Nhà giảng đường Trường Đại học Y khoa Vinh; Đường giao thông 533 nối đường Hồ Chí Minh; Đường giao thông 534 đi Đại Sơn, Đô Lương; Xây dựng kè chống sạt lở bờ sông Lam; Kè chống sạt lở sông Nam Cấm; Hạ tầng cụm công nghiệp Bồng Khê, Con Cuông; Khu Tái định cư Nghi Yên, Nghi Lộc; Công viên Thanh thiếu niên thuộc Quần thể lưu niệm Cố Tổng bí thư Lê Hồng Phong; Đường từ Trung tâm huyện Thanh Chương đi Khu tái định cư Thủy điện Bản Vẽ; Sửa chữa nâng cao an toàn đập WB8; Sửa chữa, nâng cấp hệ thống tưới Diễn Thọ, Diễn Lợi; Sửa chữa, nâng cấp hồ chứa nước Cửa Ông, Nam Đàn; Cầu tràn Đồng Hợp, Quỳ Hợp; Bảo tồn, tôn tạo Đền Quả Sơn; Trường THCS phường Quán Bàu; Bệnh viện điều dưỡng và PHCN Cửa Lò; Dự án chăn nuôi bò sữa TH; Khu Liên hợp sản xuất VLXD Trung Đô; Chung cư CT1B Quang Trung; Trung tâm thương mại Phú Nguyên Plaza; Nâng cấp nhà máy xi măng Hoàng Mai; Chung cư Huy Hùng; Nhà máy MDF Thanh Thành Đạt; Nhà máy Xi măng Tân Thắng; Công ty may Minh Anh; Dự án WHA Hemaraj1; Dự án cải tạo Khu B Quang Trung;…

                Trong kỳ Bộ Giao thông vận tải phối hợp với tỉnh Nghệ An đã khởi công cầu Cửa Hội bắc qua sông Lam. Cầu rộng 18,5 m dài 5,3 km có tổng mức đầu tư 950 tỷ đồng, dự kiến sẽ hoàn thành sau 18 tháng. Khánh thành Nhà máy nước tinh khiết và hoa quả Núi Tiên của Tập đoàn TH tại xã Nghĩa Sơn, huyện Nghĩa Đàn với tổng mức đầu tư 1.177 tỷ đồng; Khánh thành Tổng kho xăng dầu DKC của Công ty CP Thiên Minh Đức tại xã Nghi Thiết, huyện Nghi Lộc với tổng mức đầu tư 570 tỷ đồng.

Công tác xúc tiến đầu tư: Ngày 23/2/2019 tại Thị xã Cửa Lò, Ủy ban Nhân dân tỉnh Nghệ An phối hợp với Ngân hàng đầu tư phát triển Việt Nam tổ chức Hội nghị gặp mặt các nhà đầu tư xuân Kỷ Hợi 2019. Đây là lần thứ 11 liên tiếp Hội nghị được tổ chức kể từ năm 2009, với mục tiêu giới thiệu quảng bá nhằm thu hút đầu tư vào tỉnh Nghệ An, Hội nghị đã thu hút được sự quan tâm của đông đảo doanh nghiệp trong và ngoài nước. Tại Hội nghị lần này, tỉnh Nghệ An đã trao giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư cho 13 dự án và ký kết 18 biên bản ghi nhớ, hợp tác đầu tư vào Nghệ An với tổng số vốn đăng ký là 21.977 tỷ đồng.

                5. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp

Trong 6 tháng đầu năm 2019 đã cấp đăng ký thành lập mới cho 842 doanh nghiệp, bằng 94,18% so với cùng kỳ, tổng số vốn các doanh nghiệp đăng ký 7.073 tỷ đồng, tăng 31,52% so với cùng kỳ, bình quân khoảng 8,4 tỷ đồng/doanh nghiệp. Theo kết quả rà soát doanh nghiệp tính đến 31/12/2018 trên địa bàn toàn tỉnh hiện có 10.685 doanh nghiệp đang hoạt động, 339 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động sản xuất kinh doanh.

Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vẫn còn gặp nhiều khó khăn, 6 tháng đầu năm 2019 có 97 doanh nghiệp giải thể. Tính đến 31/5/2019 các doanh nghiệp nợ thuế 1.567 tỷ đồng, tăng 490 tỷ đồng so với đầu năm; nợ BHXH, BHYT, BHTN 220 tỷ đồng.

6. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

                6.1. Sản xuất nông nghiệp

a. Trồng trọt:

Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm vụ Đông Xuân 2019 đạt 223.464 ha, tăng 0,13% (+298 ha) so với cùng kỳ năm trước, cụ thể một số cây trồng chính như sau:

Cây lương thực gieo trồng 128.770 ha, tăng 0,62% (+788 ha) so với cùng kỳ năm trước, trong đó:

Cây lúa đã gieo cấy đạt 92.388,6 ha, tăng 0,08% (+71 ha) so với vụ Đông Xuân năm trước. Cây lúa vụ Xuân tập trung ở những huyện có điều kiện thâm canh như Yên Thành 12.882 ha, Diễn Châu 9.201 ha, Thanh Chương 8.671 ha, Đô Lương 8.441 ha, Nghi Lộc 7.852 ha, Quỳnh Lưu 7.564 ha, Nam Đàn 6.866 ha. Trong thời kỳ sinh trưởng và phát triển thời tiết ấm và có những đợt mưa tạo điều kiện để cây lúa đẻ nhánh, làm đòng, ước tính năng suất vụ Đông Xuân năm nay đạt 66,7 tạ/ha, sản lượng ước đạt 616.232 tấn, giảm 1,07% (-6.658 tấn).

Tuy nhiên trong thời kỳ sinh trưởng và phát triển trên cây lúa đã xuất hiện một số sâu bệnh như đạo ôn lá xảy ra đã làm cho 244 ha lúa bị nhiễm, trong đó có 11 ha bị nhiễm nặng; chuột phá hoại 1.285 ha ở Thành phố Vinh, Hoàng Mai, Quỳnh Lưu, Hưng Nguyên, Yên Thành, trong đó có 176 ha bị thiệt hại nặng; bệnh khô vằn phát sinh gây hại trên 5.627 ha, trong đó có 312 ha bị nhiễm nặng với tỷ lệ phổ biến 5-10% dánh bị hại; bệnh bạc lá đốm sọc vi khuẩn phát sinh gây hại 378 ha ở các huyện Quỳnh Lưu, Hoàng Mai, Nghi Lộc, Thành phố Vinh với tỷ lệ nơi cao 5-10%; Hiện tượng đốm nâu khô cháy lá 54 ha ở Thành phố Vinh; ngoài ra sâu cuốn lá, sâu đục thân, rầy nâu, rầy lưng trắng,… cũng gây ảnh hưởng một số diện tích lúa.

 Cây ngô diện tích gieo trồng đạt 36.381,5 ha, tăng 2,01% (+717 ha) so với vụ Đông Xuân năm trước, trong đó diện tích ngô Xuân 17.613 ha. Năng suất ngô Đông Xuân ước đạt 46,94 tạ/ha; sản lượng ước tính đạt 170.775 tấn, tăng 2,18% (+3.644 tấn) so với vụ Đông Xuân năm trước.

                Mặc dù sản lượng ngô tăng nhưng sản lượng lúa giảm nên tổng sản lượng cây lương thực có hạt vụ Đông Xuân năm 2019 ước tính đạt 787.007 tấn, giảm 0,38 %  (-3.015 tấn) so với cùng kỳ năm trước.

Cây lấy củ có chất bột: diện tích gieo trồng đạt 17.702 ha, tăng 0,26% (+47 ha) so với cùng vụ năm trước. Trong đó cây khoai lang diện tích gieo trồng ước đạt 3.050 ha, giảm 101 ha; năng suất ước đạt 66,65 tạ/ha; sản lượng ước đạt 20.326 tấn, tăng 2,86% (+566 tấn). Cây sắn diện tích hiện có 13.854 ha, tăng 2,19% (+298 ha).

Cây mía diện tích 24.419 ha, giảm 0,81% (-200 ha) so với cùng kỳ năm trước do một số diện tích trồng mía chuyển sang trồng sắn. Hiện nay trên diện tích mía đã xuất hiện bệnh chồi cỏ: 966 ha, trong đó 104 ha nhiễm từ trung bình đến nặng. Ngoài ra bệnh thối đỏ, sâu đục thân, châu chấu… gây hại cục bộ một số vùng.

Cây lạc diện tích gieo trỉa đạt 12.719,4 ha, giảm 5,27% (-708 ha); năng suất ước đạt 25,8 tạ/ha; sản lượng 32.816 tấn, giảm 7,13% (-2.521 tấn); Cây vừng diện tích gieo trồng ước đạt 206 ha giảm 93 ha so với cùng kỳ năm trước, năng suất ước đạt 8,58 tạ/ha; sản lương ước đạt 177 tấn, giảm 6 tấn. Cây đậu tương diện tích gieo trồng đạt 161 ha, tăng 31,47% (+39 ha) so với cùng kỳ năm trước, năng suất ước đạt 11,61 tạ/ha; sản lượng ước đạt 187 tấn, tăng 48 tấn.

Cây rau đậu, hoa cây cảnh: diện tích gieo trồng đạt 25.043 ha, giảm 0,73% (-185 ha) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, diện tích rau các loại ước đạt 23.692 ha, giảm 1,48% (-356 ha); năng suất ước đạt 140,07 tạ/ha; sản lượng ước đạt 331.851 tấn, giảm 2,44% (-8.285 tấn); diện tích đậu 1.164 ha, tăng 11,21% (+117 ha), sản lượng ước đạt 1.302 tấn, tăng 11,54% (+135 tấn).

Cây hàng năm khác: diện tích gieo trồng đạt 14.298 ha, tăng 4,6% (+628 ha) so với cùng kỳ năm trước, trong đó chủ yếu là diện tích cây cỏ voi 9.351 ha để làm thức ăn cho bò sữa, ngô thức ăn chăn nuôi 1.662 ha.

                b, Chăn nuôi:

Tổng đàn trâu bò ước đạt 743.711 con, tăng 1,08% tương đương tăng 7.951 con so với cùng kỳ năm trước. Đàn trâu 272.590 con, giảm 0,88% (-2.430 con); đàn bò 471.121 con, tăng 2,25% (+10.381 con); trong đó bò sữa 59.057 con, giảm 6,45% (-4.073 con); Tổng đàn lợn ước đạt 911.610 con, tăng 1,3% (+11.685 con); Tổng đàn gia cầm (gà, vịt, ngan, ngỗng) ước đạt 24.367 nghìn con, tăng 7,2% (+1.637 nghìn con), trong đó đàn gà ước đạt 20.272 nghìn con, tăng 7,48% (+1.411 nghìn con).

Do ảnh hưởng của dịch Tả lợn Châu Phi nên sản lượng lợn xuất chuồng 6 tháng đầu năm 2019 ước đạt 72.383 tấn, chỉ tăng 1,77% (+1.262 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên sản lượng trâu xuất chuồng ước đạt 6.618 tấn, tăng 5,14% (+323 tấn); sản lượng bò xuất chuồng 10.499 tấn, tăng 4,45% (+447 tấn).

So với cùng kỳ năm trước tổng đàn trâu giảm do chương trình cơ giới hóa sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp ngày càng mở rộng thay cho sức kéo của đàn trâu; tổng đàn bò tăng (thịt bò trở thành thực phẩm ưa chuộng trong đời sống của người dân, hiệu quả kinh tế cao); Tổng đàn lợn tăng do giá thịt lợn hơi tăng lên và đứng ở mức cao trong thời gian dài (những tháng gần đây có dịch tả lợn Châu Phi giá thịt lợn hơi có giảm chút ít), người chăn nuôi có lãi nên duy trì đàn; tổng đàn gia cầm tăng (do nhu cầu tiêu dùng thịt gia cầm ngày càng cao, điều kiện chăn nuôi phù hợp với điều kiện kinh tế hộ gia đình). Tuy nhiên, bò sữa trên địa bàn giảm do Công ty TH Nghĩa Đàn chuyển một số lượng bò sữa về trang trại chăn nuôi của TH Lâm Đồng.

Tình hình dịch bệnh: Ổ dịch tả lợn Châu Phi được phát hiện đầu tiên tại một hộ chăn nuôi ở xã Quỳnh Mỹ, Quỳnh Lưu và ngày 12/3, đến nay (21/6) đã có thêm 1.364 hộ của 18 huyện, 121 xã, trên 5.200 con lợn mắc bệnh dịch tả lợn Châu Phi phải tiêu hủy; dịch bệnh có xu hướng phát sinh ra nhiều xã, huyện trong tỉnh. Đến nay đã có 20 xã thuộc 10 huyện công bố hết dịch. Các ngành chức năng đang triển khai đồng bộ các giải pháp phòng chống, trong đó chủ động phát hiện sớm, báo cáo và công bố hết dịch theo đúng quy định, xử lý kịp thời khi có dịch, tránh tình trạng để lâu, vứt xác ra môi trường làm ô nhiễm, lây lan dịch bệnh, kịp thời hỗ trợ kinh phí cho người chăn nuôi có lợn buộc phải tiêu hủy.

                6.2. Sản xuất lâm nghiệp

                Diện tích trồng rừng tập trung quý II năm 2018 ước đạt 2.546 ha, cộng dồn 6 tháng ước đạt 7.012 ha, tăng 0,39% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó trồng rừng phòng hộ ước đạt 123 ha, rừng sản xuất 6.889 ha; trong kỳ cũng đã trồng được 4.547 ngàn cây phân tán. Diện tích rừng giao khoán bảo vệ đã giao được 956.705 ha, khoanh nuôi tái sinh 67.420 ha và rừng trồng được chăm sóc 58.120 ha. Sản xuất cây giống phục vụ công tác trồng rừng 6 tháng ước đạt 179.620 nghìn cây, tăng 0,17% so với cùng kỳ năm trước.

                Sản lượng khai thác lâm sản quý II và 6 tháng đạt khá, quý II/2019 gỗ các loại khai thác 342.098 m3, tăng 10,15% so với cùng kỳ năm trước; củi 303.639 ste, tăng 0,48%. Tính chung 6 tháng đầu năm 2019 gỗ các loại khai thác 502.605 m3, tăng 9,49% so với cùng kỳ năm trước; củi 611.956 ste, tăng 0,34%; các sản phẩm khác như tre, luồng, vầu, nứa hàng, nhựa thông, quế, lá dong, măng tươi đều tăng hơn so với cùng kỳ năm trước.

Công tác bảo vệ rừng thường xuyên được quan tâm, tuy nhiên do thời tiết nắng nóng nên từ đầu năm đến nay (15/6) đã xảy ra 2 vụ cháy rừng với diện tích thiệt hại 1,1 ha; đã phát hiện và xử lý 290 vụ vi phạm lâm luật, trong đó vi phạm về phá rừng 46 vụ; mua bán vận chuyển lâm sản trái phép 110 vụ; vi phạm về khai thác gỗ và lâm sản 15 vụ; tịch thu 426 m3 gỗ các loại; thu nộp ngân sách 2.126 triệu đồng.

6.3. Sản xuất thủy sản

                Nuôi trồng thủy sản: Diện tích nuôi trồng thủy sản 6 tháng đầu năm 2019 (không tính nuôi lồng bè) ước đạt 20.109 ha, tăng 0,43% (+87 ha) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó diện tích nuôi cá 18.478 ha, tăng 0,03% (+6 ha); diện tích nuôi tôm 1.430 ha, tăng 5,69% (+77 ha); diện tích thủy sản khác 201 ha.

                Để đáp ứng đủ nhu cầu nuôi trồng thủy sản trong và ngoài tỉnh, công tác sản xuất, phân phối giống thủy sản cũng phát triển khá. Số con giống đã sản xuất, phân phối trong 6 tháng đầu năm là 1.822 triệu con, tăng 9,04% (+151 triệu con).

                Tổng sản lượng nuôi trồng và khai thác thủy sản trong quý II và 6 tháng đầu năm 2019 tăng khá do thời tiết tương đối thuận lợi cho ngư dân ra khơi, thời gian bám ngư trường nhiều hơn. Sản lượng thủy sản nuôi trồng quý II/2019 ước đạt 12.693 tấn, tăng 5,93%; sản lượng khai thác ước đạt 51.515 tấn, tăng 9,99%; tính chung sản lượng thủy sản quý II ước đạt 64.208 tấn, tăng 9,17%. Cộng dồn 6 tháng đầu năm 2019 sản lượng thủy sản nuôi trồng ước đạt 25.288 tấn, tăng 4,99% (+1.202 tấn) so với cùng kỳ năm trước; sản lượng thủy sản khai thác đạt 82.290 tấn, tăng 10,38% (+7.736 tấn). Tính chung tổng sản lượng nuôi trồng và khai thác thủy sản 6 tháng đầu năm ước đạt 107.578 tấn, tăng 9,06% (+8.938 tấn), trong đó sản lượng cá ước đạt 88.788 tấn, tăng 9,05%, sản lượng tôm 3.108 tấn, tăng 8,33% và sản lượng thủy sản khác 15.682 tấn, tăng 9,29%.

7. Sản xuất công nghiệp

Ngành công nghiệp Nghệ An 6 tháng đầu năm phát triển chậm hơn kịch bản tăng trưởng đề ra, nguyên nhân nhiều ngành chủ lực như sữa, đường kính, bia, thủy điện, tôn Hoa sen đã khai thác tối đa công suất, không có sản phẩm mới đủ lớn để bứt tốc. Chỉ số sản xuất công nghiệp quý II/2019 tăng 9,54% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó công nghiệp khai khoáng giảm 2,63%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,67% (trong đó có một số ngành tăng khá như sản xuất và chế biến thực phẩm tăng 24,27%; chế biến gỗ và sản phẩm từ gỗ tăng 24,38%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 37,85%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 21,38%, sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 24,27%, sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại tăng 25,88%, sản xuất sản phẩm điện tử tăng 76,09%); sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 3,49%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 4,52%.

                Nhiều sản phẩm chủ yếu trong quý II có mức tăng khá so với cùng kỳ năm trước như sữa tươi 56,1 triệu lít, tăng 19,45%; đường kính 17,71 nghìn tấn, tăng 149,29%; thức ăn gia súc 31,96 nghìn tấn, tăng 42,39%; bia chai 19,01 triệu lít, tăng 35,82%; vỏ bào, dăm gỗ 168,25 nghìn tấn, tăng 80,03%; bao bì 14,1 triệu chiếc, tăng 58,38%; phân NPK 20,16 nghìn tấn, tăng 21,34%; ống nhựa Tiền Phong 5.061 tấn, tăng 19,45%; xi măng 1.779,2 nghìn tấn, tăng 42,06%; cửa bằng sắt thép 434,4 nghìn m2, tăng 19,49%; loa 38,32 triệu chiếc, tăng 76,09%; tủ gỗ 53 nghìn chiếc, tăng gần 4 lần;... Tuy nhiên trong tháng có một số sản phẩm chủ yếu giảm sút như đá xây dựng giảm 10,0%; bia đóng lon giảm 11,6%; thùng carton giảm 12,58%; bê tông tươi giảm 14,78%; tôn hoa sen giảm 27,25%;…

Tính chung 6 tháng đầu năm 2019 chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 8,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó công nghiệp khai khoáng giảm 3,0%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,19% (sản xuất chế biến thực phẩm tăng 16,63%, chế biến gỗ tăng 20,73%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 43,29%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 20,86%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại tăng 28,36%; sản xuất sản phẩm điện tử tăng 30,44%); công nghiệp sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 3,95%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,88%. Nguyên nhân chỉ số ngành khai khoáng giảm do tài nguyên, khoáng sản ngày càng cạn kiệt, thuê đất mỏ, thuế tài nguyên tăng, khai thác gặp nhiều khó khăn; nguyên nhân chỉ số công nghiệp chế biến, chế tạo tăng thấp do một số ngành bị ảnh hưởng của cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung nên chỉ số sản xuất giảm như dệt, may mặc, hóa chất, sản xuất kim loại; nguyên nhân chỉ số sản xuất và phân phối điện tăng thấp do thời tiết nắng nóng kéo dài, không mưa, lưu lượng nước tại các hồ thủy điện xuống thấp, công suất chạy máy hạn chế. Chỉ số sản xuất công nghiệp 6 tháng đầu năm chỉ bằng 1/2 so với kịch bản tăng trưởng đề ra (8,6%/17,3%), do đó khả năng sản xuất công nghiệp năm 2019 sẽ không đạt kế hoạch đề ra.

Sáu tháng đầu năm một số sản phẩm chủ yếu có mức tăng khá so với cùng kỳ năm trước như sữa tươi 112,26 triệu lít, tăng 18,14%; thức ăn gia súc 63,26 nghìn tấn, tăng 28,33%; bia chai 33,73 triệu lít, tăng 45,35%; vỏ bào, dăm gỗ 292,38 nghìn tấn, tăng 50,19%; bao bì 27,08 triệu chiếc, tăng 66,73%; ống nhựa Tiền Phong 8.559 tấn, tăng 18,92%; xi măng 3.070,3 nghìn tấn, tăng 44,95%; cửa bằng sắt thép 776,3 nghìn m3, tăng 15,93%; Loa 65,45 triệu cái, tăng 30,44%;… Tuy nhiên trong kỳ có nhiều sản phẩm chủ yếu giảm sút như đá xây dựng giảm 13,22%; sợi giảm 17,74%; áo sơ mi giảm 2,36%; thùng carton giảm 7,8%; phân NPK giảm 3,27%; bê tông tươi giảm 9,08%; ống thép Hoa sen giảm 28,87%; Tôn Hoa sen giảm 24,53%;…

                8. Thương mại, dịch vụ

Tổng mức bán lẻ hàng hóa quý II/2019 theo giá hiện hành ước đạt 15.557 tỷ đồng, tăng 15,39% so với cùng tháng năm trước đưa tổng mức bán lẻ hàng hóa 6 tháng đầu năm 2019 ước đạt 30.726 tỷ đồng, tăng 13,98% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó nhóm lương thực, thực phẩm chiếm tỷ trọng lớn nhất với doanh thu trong kỳ ước đạt 9.871,8 tỷ đồng (chiếm 32,13% tổng số), tăng 16,33% so với cùng kỳ năm trước; nhóm đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình 3.901,6 tỷ đồng, tăng 10,29%; ô tô các loại 4.730,7 tỷ đồng, tăng 13,13%; phương tiện đi lại (trừ ô tô) 2.240,4 tỷ đồng, tăng 11,32%; xăng dầu 2.916,7 tỷ đồng, tăng 27,86%...

Thời tiết nắng nóng kéo dài, du khách khắp nơi đổ về tắm biển Cửa Lò tăng mạnh, do đó doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành quý II/2019 ước đạt 2.401 tỷ đồng, tăng 16,06% so với cùng kỳ năm trước. Cộng dồn 6 tháng doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước đạt 4.325,5 tỷ đồng, tăng 14,63% so với cùng kỳ năm trước; trong đó dịch vụ lưu trú phục vụ 3.074 nghìn lượt khách, tăng 11,61% so với cùng kỳ năm trước (2.333 nghìn lượt khách ngủ qua đêm, trong đó có 64,6 nghìn lượt khách quốc tế) với doanh thu dịch vụ lưu trú 645,3 tỷ đồng, tăng 12,74%; doanh thu dịch vụ ăn uống 3.600,7 tỷ đồng, tăng 15,06%; doanh thu dịch vụ du lịch lữ hành 79,5 tỷ đồng, tăng 10,85%.

Doanh thu hoạt động dịch vụ khác (trừ dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành) quý II/2019 ước đạt 1.612,7 tỷ đồng, tăng 10,38% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng/2019 ước đạt 3.158,1 tỷ đồng, tăng 10,32%; trong đó kinh doanh bất động sản 1.163,5 tỷ đồng, tăng 3,94%; dịch vụ hành chính 620 tỷ đồng, tăng 9,06%; dịch vụ y tế 517,7 tỷ đồng, tăng 18,81%; dịch vụ nghệ thuật, vui chơi giải trí 243,2 tỷ đồng, tăng 19,33%…

Hoạt động kinh doanh vận tải 6 tháng/2019 đã đáp ứng tốt nhu cầu sản xuất, đời sống và đi lại của dân cư nhất là trong ngày Tết, ngày lễ, công tác kiểm tra, giám sát các hoạt động vận tải thường xuyên được duy trì nên đã hạn chế đến mức thấp nhất các hiện tượng lèn khách, ép giá, đảm bảo giao thông thông suốt.

Vận chuyển hành khách quý II/2019 ước đạt 27,47 triệu lượt khách và 2.238 triệu lượt khách.km. So với cùng kỳ năm trước hành khách vận chuyển tăng 16,72% và hành khách luân chuyển tăng 16,95%. Tính chung 6 tháng khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 52,19 triệu lượt khách, tăng 15,44% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng hành khách luân chuyển 4.248,8 triệu lượt khách.km, tăng 15,71%.

Khối lượng vận chuyển và luân chuyển hành khách tháng này tăng do nhu cầu đi lại của nhân dân tăng cao nhất là các đối tượng học sinh, sinh viên được nghỉ hè về thăm nhà và nhiều khách đi du lịch tham quan tắm biển.

Vận tải hàng hóa quý II/2019 ước đạt 22,5 triệu tấn và 884,8 triệu tấn.km. So với quý II/2018 khối lượng vận chuyển hàng hóa tăng 18,12%, khối lượng luân chuyển hàng hóa tăng 14,34%. Tính chung 6 tháng đầu năm khối lượng vận chuyển hàng hóa ước đạt 43,6 triệu tấn, tăng 14,82% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển hàng hóa 1.764,4 triệu tấn.km, tăng 11,23%.

Doanh thu vận tải, bốc xếp quý II ước đạt 2.706,2 tỷ đồng đưa doanh thu 6 tháng ước đạt 5.238,6 tỷ đồng, tăng 15,33% so với cùng kỳ năm trước, trong đó doanh thu vận tải hàng hóa 3.324,5 tỷ đồng, tăng 15,23%; doanh thu vận tải hành khách 1.270,2 tỷ đồng, tăng 17,11% và doanh thu bốc xếp, dịch vụ vận tải 643,9 tỷ đồng, tăng 12,21%.

B. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI

1. Lao động, việc làm, đời sống dân cư

Dân số tỉnh Nghệ An có hơn 3,15 triệu người; trong đó lực lượng lao động có gần 1,9 triệu người đứng thứ 4 cả nước, hàng năm bổ sung khoảng 40 nghìn người và đang ở trong thời kỳ “dân số vàng”, đây là lợi thế về nguồn lao động dồi dào nhưng cũng là thách thức khi giải quyết việc làm cho người lao động.

Chất lượng nguồn lao động thấp, tỷ lệ lao động qua đào tạo chỉ chiếm 20,7% và chủ yếu tập trung ở thành thị (thành thị tỷ lệ lao động qua đào tạo chiếm 44,4%). Sự chuyển dịch cơ cấu lao động đang còn chậm; lao động trong ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản đang chiếm tỷ lệ lớn (49,1%), lao động công nghiệp, xây dựng và dịch vụ tương ứng là 23,8% và 27,1%.

Công tác giải quyết việc làm, chế độ cho người lao động đạt kết quả khá, ước 6 tháng đầu năm 2019 toàn tỉnh đã giải quyết việc làm cho 19.165 lao động, trong đó giải quyết việc làm trong tỉnh 7.032 người, ngoại tỉnh 6.321 người, xuất khẩu lao động 5.812 người; chi trả trợ cấp BTXH tại cộng đồng cho 131.495 đối tượng với kinh phí 684 tỷ đồng; tuyển sinh đào tạo cho 33.050 lượt người.

6 tháng đầu năm 2019 kinh tế - xã hội tỉnh nhà mặc dù vẫn còn gặp nhiều khó khăn nhưng vẫn có bước phát triển và giá cả của hầu hết các loại hàng hóa, dịch vụ tăng vừa phải, nên nhìn chung đời sống của các tầng lớp dân cư được cải thiện hơn tuy vẫn còn gặp nhiều khó khăn, nhất là những người làm công ăn lương và những người thu nhập thấp.

Trong khu vực Nhà nước đời sống của cán bộ công nhân viên chức có được cải thiện hơn do cán bộ, công nhân viên đương chức đều được trả lương, thưởng đầy đủ, đúng kỳ, trong dịp Tết nguyên đán hầu hết các đơn vị đã phát thưởng cho cán bộ, công chức từ 1 đến 2 tháng lương. Các đơn vị sản xuất kinh doanh tuy mức lương tối thiểu được điều chỉnh từ 01/01/2019 nhưng thu nhập của công nhân tùy thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp, dịp Tết nguyên đán các doanh nghiệp đã phát thưởng cho người lao động từ 4,5-5,5 triệu đồng/người, cao nhất là 80 triệu, thấp nhất là 150 nghìn đồng.

Đối với hộ sản xuất nông nghiệp do thời tiết năm nay tương đối thuận lợi nên sản xuất vụ Đông xuân 2019 được mùa, do đó đời sống của bà con nông dân cũng được cải thiện hơn nên tính đến thời điểm 15/6/2019 trên địa bàn tỉnh không còn hộ đói.

Để mọi người dân đều có cái Tết vui tươi, đầy đủ Ủy ban Nhân dân tỉnh đã trích ngân sách hơn 48 tỷ đồng để chi cho việc thăm hỏi, tặng quà người có công, gia đình chính sách và các đối tượng bảo trợ xã hội, trong đó quà của Chủ tịch nước là 19,4 tỷ đồng, quà ngân sách tỉnh 8,6 tỷ đồng, quà ngân sách huyện 20 tỷ đồng. Ngoài ra các tổ chức, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp và cá nhân đã ủng hộ chương trình “Tết vì người nghèo” với số tiền 66,185 tỷ đồng, Chính phủ hỗ trợ 1.264,86 tấn gạo cứu đói cho các hộ nghèo đói…

Tiếp tục thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo và khắc phục khó khăn vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn như chương trình 135 giai đoạn 2016-2020 với 3 hợp phần; hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt theo quyết định 755/QĐ-TTg; hỗ trợ vay vốn phát triển sản xuất đối với hộ dân tộc thiểu số theo quyết định 54/QĐ-TTg; hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2017-2020 theo quyết định 2085/QĐ-TTg; … Ngân hàng chính sách xã hội từ đầu năm đến 10/6 đã giải ngân cho 15.649 hộ nghèo vay vốn với số tiền 693,8 tỷ đồng, cho vay 41,1 tỷ đồng để giải quyết việc làm cho 1.096 người; cho 316 học sinh, sinh viên vay 25,2 tỷ đồng; cho vay sản xuất kinh doanh 175 tỷ đồng; cho vay chương trình nước sạch, vệ sinh môi trường nông thôn 160,8 tỷ đồng…

                2. Giáo dục

Tích cực thực hiện Nghị quyết 29-QN/TW về đổi mới toàn diện giáo dục đào tạo. Nhìn chung chất lượng giáo dục có chuyển biến, việc giáo dục nhân cách, đạo đức cho học sinh tiếp tục được quan tâm; triển khai tích cực phổ cập giáo dục mầm non, trẻ mẫu giáo 5 tuổi; củng cố vững chắc chất lượng phổ cập giáo dục phổ thông; việc đánh giá chất lượng giáo dục ngày càng nề nếp.

Kết quả thi học sinh giỏi quốc gia năm 2019 Nghệ An có 108 học sinh đạt giải (Trường THPT Chuyên Phan Bội Châu 90 giải, Trường THPT chuyên Đại học Vinh 18 giải), đứng thứ 3 cả nước, trong đó có 5 giải nhất, 40 giải nhì, 35 giải ba và 28 giải khuyến khích. Có 17 học sinh dự thi quốc tế vòng 2, 1 em đạt huy chương đồng Olimpic Vật lý Châu Âu.

Đến nay, toàn tỉnh có 21/21 đơn vị cấp huyện đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi; 19/21 đơn vị cấp huyện đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học mức độ 3, 2 đơn vị đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học mức độ 2; 1/21 đơn vị cấp huyện đạt chuẩn phổ cập giáo dục THCS mức độ 3, 14/21 đơn vị cấp huyện đạt chuẩn phổ cập giáo dục THCS mức độ 2, 6/21 đơn vị cấp huyện đạt chuẩn phổ cập giáo dục THCS mức độ 1. Trong 6 tháng đầu năm đã công nhận thêm 35 trường đạt chuẩn quốc gia, nâng tổng số trường đạt chuẩn quốc gia lên 1.104 trường, đạt 72,68%.

Tổ chức thành công Hội thi giáo viên dạy giỏi cấp tiểu học toàn tỉnh năm học 2018- 2019, hội thi có quy mô lớn, đã đổi mới hình thức kiểm tra năng lực và chấm thi thực hành. Tổ chức thành công Cuộc thi Khoa học Kỹ thuật cấp tỉnh học sinh trung học năm học 2018-2019; tham gia Cuộc thi KHKT cấp Quốc gia học sinh trung học năm học 2018-2019, có 6/9 dự án tham dự đạt giải (01 giải nhất, 01 giải nhì, 04 giải tư), xếp thứ 6/34 đơn vị Khu vực phía Bắc.

3. Y tế

Tổ chức giám sát chặt chẽ các loại dịch bệnh; chủ động và tích cực phòng chống các bệnh truyền nhiễm gây dịch, khống chế có hiệu quả các bệnh truyền nhiễm gây dịch nguy hiểm, phát hiện sớm các trường hợp mắc bệnh đầu tiên, chủ động xử lý, không để dịch phát triển và lan rộng. 

Tiếp tục duy trì củng cố và phát triển, hoàn thiện các kỹ thuật cao phục vụ công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân. Tổ chức triển khai thực hiện phương án tự chủ tại 16 Bệnh viện (tự chủ về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, nhân sự, tài chính) đạt kết quả tốt.

Tăng cường công tác truyền thông đảm bảo an toàn thực phẩm; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát các cơ sở sản xuất, chế biến và kinh doanh thực phẩm trên địa bàn, đặc biệt là trong dịp Tết Nguyên đán và mùa Lễ hội Xuân 2019. Nhờ vậy, đã giảm thiểu nguy cơ xảy ra các vụ ngộ độc thực phẩm so với năm trước.

Tuy nhiên trong kỳ các bệnh thông thường vẫn xảy ra, quý II/2019 tiêu chảy xảy ra 2.115 ca ; sốt rét 29 ca; sốt xuất huyết 3 ca; ngộ độc thực phẩm 2 vụ. Tính chung 6 tháng tiêu chảy có 4.328 ca; Sốt rét có 44 ca; sốt xuất huyết 4 ca; ngộ độc thực phẩm 3 vụ. So với 6 tháng năm trước tiêu chảy giảm 11,53% (-564 ca), sốt rét giảm 11 ca. Nguyên nhân chính gây ra các vụ tiêu chảy và ngộ độc là do thời tiết, uống bia rượu nhiều, ăn các thức ăn chế biến có ướp hoá chất, rau hoa quả phun thuốc sâu và thuốc kích thích.

                Tình hình nhiễm HIV/AIDS: Đến ngày 30/4/2019 số người bị nhiễm HIV được phát hiện trên toàn tỉnh là 12.068 người, trong đó có 9.829 người trong tỉnh. Căn bệnh HIV đã xảy ra ở 449/480 xã/phường/thị trấn của 21 huyện/thành phố/thị xã. Trong tổng số người nhiễm HIV đã có 7.049 người chuyển sang bệnh AIDS và đã tử vong 4.266 người.

                4. Hoạt động Văn hóa – Thể thao

Sáu tháng đầu năm 2019 công tác văn hóa thông tin chủ yếu tập trung tuyên truyền, trang trí cổ động và tổ chức các hoạt động văn hóa phục vụ nhiệm vụ chính trị, các ngày lễ lớn của dân tộc như: Kỷ niệm 89 năm ngày thành lập Đảng; 64 năm ngày thầy thuốc Việt Nam 27/2; 30 năm ngày biên phòng toàn dân; Ngày thành lập đoàn TNCS HCM 26/3; 109 năm ngày Quốc tế Phụ nữ; 129 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh; … Tuyên truyền trong nhân dân nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị.

Trong kỳ khắp nơi trong toàn tỉnh đã tổ chức các lễ hội như: Lễ hội Vua Mai ở huyện Nam Đàn, Lễ hội đền Vạn Lộc ở Cửa Lò, lễ hội Hang Bua ở Quỳ Châu, lễ hội Mường Ham ở Quỳ Hợp, lễ hội đền Quả Sơn ở Đô Lương, lễ hội đền Vạn – Cửa Rào, lễ hội đền Cờn ở Quỳnh Lưu, lễ hội Đền Nguyễn Xí ở Nghi Lộc, Lễ hội Làng Vạc ở Thị xã Thái Hòa,... Các lễ hội trên được tổ chức trang nghiêm, thành kính và các chương trình ca nhạc đặc sắc cùng với tổ chức thi đấu các môn thể dục thể thao như bóng đá, bóng chuyền, đua thuyền, ném tiêu, cờ thẻ, chọi gà, đu tiên, đẩy gậy, đốt lửa trại. Thực hiện tốt bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa, tổ chức thành công Hội thảo khoa học “Bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa gắn với phát triển kinh tế di sản”.

Về thể dục thể thao tiếp tục thực hiện phong trào “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại” gắn với “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, kỷ niệm 73 năm  ngày thể thao Việt Nam nhiều hoạt động thể dục thể thao quần chúng từ tỉnh đến cơ sở phát triển mạnh mẽ cả quy mô và chất lượng như: Tổ chức các giải thể thao truyền thống trong các lễ hội, trong các ngành. Tổ chức tốt các trận bóng đá chuyên nghiệp quốc gia tại sân vận động Vinh; Công ty cổ phần bóng đá SLNA sau 13 trận đấu ở V-League thắng 5 trận, hòa 6 trận được 21 điểm hiện đang xếp thứ 4 trong 14 đội tham gia.

5. Trật tự, an toàn xã hội:

Trong quý II/2019 trên địa bàn tỉnh xảy ra 413 vụ, bắt giữ 440 đối tượng phạm pháp kinh tế chủ yếu là buôn bán hàng cấm, hàng nhập lậu. Cộng dồn 6 tháng đầu năm đã xảy ra 879 vụ với 968 đối tượng phạm pháp kinh tế, tăng 11,41% số vụ và tăng 1,68% đối tượng so với cùng kỳ năm trước.

Phạm pháp hình sự quý II/2019 xảy ra 330 vụ với 577 đối tượng, tội phạm chủ yếu là trộm cắp, cướp giật tài sản công dân. Tính chung 6 tháng đầu năm xảy ra 679 vụ với 1.138 đối tượng phạm pháp hình sự, tăng 2,26% số vụ và tăng 8,17% số đối tượng so với cùng kỳ năm trước.

Quý II/2019 buôn bán, vận chuyển, tàng trữ ma tuý xảy ra 268 vụ 303 đối tượng; Trong quý II có 147 đối tượng sử dụng ma túy bị phát hiện; 24 đối tượng hoạt động mại dâm. Tính chung 6 tháng đầu năm số vụ buôn bán, vận chuyển ma túy có 505 vụ bị phát hiện, tăng 10,5% so vời cùng kỳ năm trước; bắt giữ 558 người, tăng 1,82%; số đối tượng sử dụng ma túy bị phát hiện 288 người, tăng 17,07%; số đối tượng hoạt động mại dâm 35 người, giảm 39,66%.

 Trong quý II xẩy ra 102 vụ tai nạn giao thông, làm chết 57 người, bị thương 81 người, ước giá trị thiệt hại 2.533 triệu đồng. Như vậy trong 6 tháng đã xẩy ra 214 vụ tai nạn giao thông, làm chết 103 người, bị thương 171 người, ước giá trị thiệt hại 5.793 triệu đồng. So với 6 tháng năm trước số vụ tai nạn giao thông giảm 5,31% (-12 vụ), số người chết giảm 16,26% (-20 người), bị thương giảm 17,79% (-37 người).

Trong quý II phát hiện 182 vụ đánh bạc thu giữ 614,3 triệu đồng và nhiều tài sản khác. Tính chung 6 tháng phát hiện 230 vụ đánh bạc thu giữ 1.153,3 triệu đồng và nhiều tài sản khác.

Ngoài ra trong quý II/2019 đã xảy ra 12 vụ cháy, làm 2 người chết, 10 người bị thương, ước giá trị thiệt hại 13,68 tỷ đồng; phát hiện 19 vụ gây ô nhiễm môi trường, xử phạt 65 triệu đồng. Cộng dồn 6 tháng đã xảy ra 26 vụ cháy, làm 2 người chết, 10 người bị thương, ước giá trị thiệt hại khoảng 29,6 tỷ đồng; phát hiện 95 vụ gây ô nhiễm môi trường, chủ yếu là vi phạm quy định về bảo vệ môi trường kinh doanh thực phẩm không đảm bảo vệ sinh, các ngành chức năng đã xử phạt 136 triệu đồng.

Khái quát lại: 6 tháng đầu năm 2019 nền kinh tế - xã hội tỉnh Nghệ An còn gặp nhiều khó khăn như kinh tế phát triển chưa bền vững, đạt thấp so với kịch bản tăng trưởng đề ra, thị trường tiêu thụ sản phẩm chưa được mở rộng, năng suất, hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp, dịch bệnh xảy ra trên cây trồng, vật nuôi. Tuy nhiên dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, sự điều hành tích cực của Ủy ban nhân dân tỉnh cùng với sự cố gắng của cộng đồng doanh nghiệp và toàn thể nhân dân nền kinh tế - xã hội tỉnh nhà vẫn ổn định và có mặt phát triển: tốc độ tăng trưởng kinh tế ước đạt 7,09%, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 8,6%, tổng mức bán lẻ hàng hóa tăng 13,98%, thu ngân sách tăng 17,6%, chỉ số giá tiêu dùng bình quân tăng 1,99%, văn hóa xã hội có chuyển biến tích cực, trật tự an toàn xã hội được giữ vững.

Để thực hiện thắng lợi kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2019, với mục tiêu là Cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư, nâng cao chất lượng tăng trưởng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế; đảm bảo các mục tiêu an sinh và phúc lợi xã hội, cải thiện đời sống nhân dân; tăng cường quốc phòng, an ninh và giữ vững trật tự, an toàn xã hội; đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu quả, hiệu lực bộ máy nhà nước; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; tăng cường công tác phòng, chống tham nhũng các ngành, các cấp cần tập trung vào một số giải pháp chủ yếu sau:

Một là, tiếp tục thực hiện có hiệu quả cơ cấu lại kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng đồng bộ, toàn diện, thực chất hơn. Tập trung khai thác, phát huy tiềm năng lợi thế để phát triển nhanh, bền vững; nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế. Bám sát các chủ trương của Quốc hội, Chính phủ về điều hành kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; dựa theo kịch bản tăng trưởng năm 2019 để tập trung chỉ đạo, nhất là những ngành, lĩnh vực so với kịch bản đang còn đạt ở mức thấp.

Hai là, thực hiện đồng bộ các giải pháp cơ cấu lại nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới. Chú trọng phát triển nông nghiệp công nghệ cao, chế biến nông sản, liên kết chuỗi giá trị, bảo đảm đầu ra cho nông sản, tăng thu nhập cho nông dân. Tạo điều kiện để doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn. Đẩy nhanh tiến độ Chương trình xây dựng nông thôn mới, triển khai thực hiện có hiệu quả Đề án xây dựng nông thôn mới trên địa bàn 27 xã khu vực biên giới của tỉnh.

Ba là, tập trung chỉ đạo quyết liệt phát triển công nghiệp. Cơ cấu lại ngành công nghiệp theo hướng phát triển những dự án sử dụng công nghệ mới, tiên tiến, đảm bảo về môi trường. Phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghiệp phục vụ nông nghiệp, công nghiệp hỗ trợ. Phát huy tối đa vai trò các ngành, sản phẩm công nghiệp chủ lực, công nghiệp có lợi thế cạnh tranh của tỉnh đã xác định như bia, sữa, thủy điện, dệt may, MDF, xi măng, tôn Hoa sen. Tiếp tục triển khai hiệu quả các dự án công nghiệp.

Bốn là, nâng cao hơn nữa vai trò của các ngành dịch vụ đối với phát triển kinh tế. Tập trung phát triển các ngành dịch vụ ứng dụng công nghệ hiện đại, giá trị gia tăng cao như bưu chính, viễn thông, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm... Đa dạng hóa sản phẩm, chú trọng quảng bá, đẩy mạnh thực hiện cuộc vận động "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam"; xây dựng thương hiệu du lịch, nâng cao chất lượng, hiệu quả các dịch vụ du lịch, xây dựng môi trường du lịch thân thiện, văn minh, bảo đảm an ninh, an toàn cho du khách để du lịch thật sự trở thành ngành kinh tế quan trọng của tỉnh.

Năm là, cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh. Thúc đẩy đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp, phát triển doanh nghiệp. Đẩy mạnh hoạt động đối ngoại, tiếp tục đổi mới hình thức, phương pháp, nâng cao hiệu quả công tác xúc tiến, thu hút đầu tư. Chủ động tiếp cận các tập đoàn kinh tế, các nhà đầu tư chiến lược. Tiếp tục kiểm tra, giám sát việc thực hiện các dự án; xử lý nghiêm túc các dự án chậm triển khai.

Sáu là, chăm lo, phát triển văn hoá, xã hội, nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân. Cải cách chính sách bảo hiểm xã hội, tiền lương, giáo dục - đào tạo, y tế, dân số. Tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo, thực hiện có hiệu quả chính sách hỗ trợ phát triển giáo dục - đào tạo cho vùng khó khăn, đồng bào dân tộc thiểu số và đối tượng chính sách. Tiếp tục làm tốt công tác phòng, chống dịch bệnh, nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh. Quản lý chặt chẽ thuốc chữa bệnh, hành nghề y dược tư nhân; bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm. Chăm lo đời sống người có công với cách mạng; giải quyết việc làm, giảm nghèo bền vững. Thực hiện tốt Cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới và đô thị văn minh. Phát triển phong trào thể dục, thể thao trong mọi tầng lớp nhân dân và thể thao thành tích cao của tỉnh.

Bảy là, tiếp tục cải cách hành chính, trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính, thành lập và tổ chức vận hành có hiệu quả Trung tâm phục vụ hành chính công; siết chặt kỷ luật, kỷ cương; tăng cường công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo; quyết liệt phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Thực hiện nghiêm các nghị quyết của Trung ương, Bộ Chính trị về đổi mới, sắp xếp lại bộ máy, tinh giản biên chế, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Siết chặt kỷ luật hành chính, tăng cường thanh tra công vụ.

Tám là, xây dựng nền quốc phòng vững mạnh. Giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Chủ động phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn kịp thời, hiệu quả các âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Thực hiện đồng bộ các giải pháp bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, tích cực đấu tranh phòng chống các loại tội phạm và tệ nạn xã hội nhất là đấu tranh, triệt phá các đường dây buôn bán, vận chuyển ma túy xuyên quốc gia; thực hiện các giải pháp bảo đảm an toàn giao thông, phòng chống cháy nổ, ngăn chặn hiệu quả hoạt động tín dụng đen, dịch vụ thu nợ, đòi nợ thuê./.

                                     Nguồn: Thái Bá Minh - Cục Thống kê tỉnh Nghệ An

 |  Đầu trang
 
<<   <  1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  ...  >  >>
 
 
 
Thông báo
Skip portletPortlet Menu
 
 
 
Thư viện ảnh
Skip portletPortlet Menu